READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại T...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Tiền Giang

Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công. Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh lỵ của Tiền Giang hiện nay là thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc và cách Thành phố Cần Thơ 100 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.

Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Hàng năm, lượng du khách đến hàng năm đều tăng. Trong năm 2009, lượng khách tham quan Tiền Giang vẫn đạt 866.400 lượt người. Thế mạnh của du lịch chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên), di tích lịch sử Rạch Gầm – Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài, và nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trương Định, lăng Hoàng gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới được tôn tạo như vườn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mười, biển Gò Công…

Chùa Vĩnh Tràng

Chùa Vĩnh Tràng tọa lạc trên đường Nguyễn Trung Trực, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng ở Nam Bộ, được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, và là một điểm hành hương và du lịch nổi tiếng và cũng là công trình có kiến trúc tại Tiền Giang được nhiều người biết đến.

Chính điện được bài trí trang nghiêm. Chùa còn bảo tồn nhiều tượng cổ, bao lam chạm trổ công phu. Bộ Thập bát La hán thượng kỳ thú là những tác phẩm tượng tròn độc đáo được các nghệ nhân Nam Bộ tạc vào những năm đầu thế kỷ 20.

Chùa được xây cất do công trình kiến trúc của nhiều người, trong nhiều năm, là một chùa lớn, được kiến trúc khá tinh vi, đa dạng theo lối thiết kế kiến trúc tổng hợp Á – Âu (Pháp, La Mã, Thái, Miên, Chàm). Tuy nhiên, chùa vẫn mang đậm nét lối kiến trúc điêu khắc truyền thống Việt Nam.

Chùa Vĩnh Tràng được kiến trúc theo dạng chữ Quốc, gồm 4 gian nối tiếp nhau (tiền đường, chánh điện, nhà tổ và nhà hậu) rộng 14.000 m², dài 70 m, rộng 20 m, xây bằng xi măng và gỗ quý, nền đúc cao 1 m, xung quanh xây tường vững chắc.

Phía trong gian chính điện và nhà tổ làm theo kiểu Trung Quốc nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc Việt Nam, nối hai gian này là một khoảng nhỏ có hòn non bộ ở giữa, hòn non bộ này phác họa lại cảnh thiên nhiên sinh động mang bản sắc Việt Nam, điều đó chứng tỏ rằng tổ tiên ta nhễ muốn đưa thiên nhiên vào tận nhà. Đúng trên hòn non bộ nhìn về mặt sau gian chánh điện, hai bên nhà cầu, mặt trước nhà tổ, ta sẽ thấy lối kiến trúc Rôma với những hàng đá hoa màu sắc sặc sỡ của Pháp được trang trí trên thành nóc, trên những cột xây bằng xi măng kiểu cách.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Long An

Đi vào từng gian ta sẽ thấy một màu vàng óng ánh được thếp rên các hình chạm, trên các tượng phật. Đáng chú ý hơn cả là những đôi long trụ trong gian chính điện, đó là những cây cột tròn to, bằng gỗ quý kiến trúc theo kiểu “thượng thu hạ cách”.

Trước chùa có 2 cổng Tam quan kiểu võ rất tinh xảo, xây theo kiểu cổ lầu để hình hòa thượng Lê Ngọc Xuyên đúng trên bậc đúc bằng xi măng, cửa ngõ này cẩn toàn bằng đồ sứ có giá trị (sứ Trung Hoa, Việt Nam) in hình long, lân, quy, phượng. Canh, mục, ngư tiều, mấy câu đối cũng cẩn bằng miếng chai nổi màu sắc óng ánh trông rất đẹp.

Tóm lại, bằng những vật liệu gỗ, những nhà kiến trúc, nhà điêu khắc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chạm khắc những hình tượng mang màu sắc tôn giáo huyền ảo, thoáng đượm vẻ vương quyền, qua đó ta thấy được những công trình điêu khắc của người xưa – qua những hình tượng sống động ấy ta thấy rõ cuộc sống vui tươi và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam – một dân tộc tự nhận mình là dòng dõi con rồng cháu tiên thể hiện qua chạm khắc hình tượng tứ linh.

Chùa Vĩnh Trường được trang bị trên 60 tượng phật đúc bằng gỗ, đồng, đất nung, xi măng, đa số tượng bằng gỗ, tất cả được thếp vàng óng ánh và được tạo vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Riêng 3 tượng đồng (Di đà, cao 98 cm, Quan Âm và Thế Chí cao 93 cm) được tạo tác giữa thế kỷ 19.

Bên cạnh những pho tượng, hiện vật còn lại trong chùa này phải kể dến là Đại Hồng Chung mang tên Pháp Bảo Chuông cao 12 cm, nặng khoảng 150 kg được đúc giữa tháng 5 năm 1854 trên đó khắc chữ “Vĩnh Trường Tự”. Hiện nay Pháp Bảo Chuông không sử dụng được, bị hỏng do nằm lâu dưới nước sau thời gian thất lạc.

Ngoài ra trong chùa hiện nay còn hơn 20 bức tranh sơn thủy rất giá trị. Tuy ảnh hưởng tranh vẽ Trung Quốc nhưng những bức vẽ này mang đậm nét dân gian Việt Nam, in hình “Mai, lan, cúc, trúc” in hình phong cảnh Việt Nam rất nên thơ. Đó là công trình của Long Giang cư sĩ phác họa năm 1904. Điều đáng chú ý là những bức hoành, câu đối trong chùa được điêu khắc chữ nổi thếp vàng như những chữ “Hoàng kim bửu điện” được khắc từ 1851 đến nay vẫn còn khá đẹp.

Từ trước tới nay, ngôi chùa vẫn được bảo quản tốt, bổn đạo khắp nơi vẫn thường đến viếng, góp tiền của cho việc tu sửa chùa, các tu sĩ trong chùa vẫn chú trọng công tác bảo vệ chùa. Gần đây, chùa đã thi công xây dựng thêm một tượng Phật đừng rất vĩ đại. Tượng màu trắng, diễn tả Phật đang đứng trông nom chúng sinh các cõi. Tượng Phật được nhiều người địa phương cho là biểu tượng của ngôi chùa hiện nay.

Cầu Mỹ Thuận

Cầu Mỹ Thuận là cây cầu dây văng bắc qua sông Tiền, nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long, Việt Nam. Cầu nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về hướng Tây Nam, trên Quốc lộ 1, là trục giao thông chính của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là cầu dây văng đầu tiên của Việt Nam.

– Loại cầu: cầu treo dây văng theo hình rẻ quạt (semi-hanp) với hai mặt phẳng dây cách nhau 18,6m;
– Tổng chiều dài cầu: 1.535,2m;
– Phần cầu chính dây văng: 660m;
– Phần cầu dẫn: 875,2m (gồm 22 nhịp);
– Tải trọng thiết kế: theo tiêu chuẩn AUSROADS-92 của Úc, có so sánh và kiểm toán với tải trọng H30-XB80 theo tiêu chuẩn 22 TCN 18-79 của Việt Nam;
– Độ dốc dọc cầu: 5%;
– Lực va xô tàu, vuông góc với tim cầu: 32,000 KN (xuôi dòng), 15,000 KN (ngược dòng);
– Song song với tim cầu: 16,000 KN (xuôi dòng), 7,500 KN (ngược dòng);
– Khổ thông thuyền: 37,5m x 110m;
– Khổ cầu 4 làn xe cơ giới, 2 lề bộ hành tổng cộng rộng 23m.

Năm 1950, Hoa Kỳ đã từng có ý định cung cấp vốn cho chính quyền Sài Gòn xây dựng cây cầu nhưng thất bại. Giữa thập niên 1960, công ty Nippon Koei (Nhật Bản) đã hoàn thành thiết kế đồ án và được lựa chọn nhưng dự án bị hủy do khó khăn về tài chính. Theo chương trình AusAid của chính phủ Australia, dự án cầu Mỹ Thuận có tổng nguồn vốn đầu tư là 90,86 triệu đô la Úc (tương đương khoảng 2.000 tỷ đồng), trong đó Chính phủ Úc tài trợ 66%, vốn đối ứng phía Việt Nam là 34% đã thành công. Việt Nam đang chuẩn bị nguồn vốn tiếp tục xây dựng cầu Mỹ Thuận 2 có đường dành riêng cho tuyến metro với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 7.000 tỷ đồng.

Nhà thờ Chánh tòa Mỹ Tho

Nhà thờ Chính Toà Mỹ Tho nằm tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Đây là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Mỹ Tho.

Ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng ở Mỹ Tho là nhà thờ thánh Phanxicô Xaviê, do các linh mục thừa sai dựng nên. Kế đó vào năm 1866, Giám mục Miche đã cho xây dựng một nhà thờ mới có tên gọi Nhà thờ Vĩnh Tường được dâng kính Thánh Tâm. Nhà thờ này được xây dựng theo lối kiến trúc Hy Lạp – Rôma thời Phục Hưng tuy nhiên hiện nay do xuống cấp nên không còn được sử dụng.

Ngôi nhà thờ thứ ba được khởi công xây dựng ngày 11 tháng 8 năm 1906 bởi linh mục Régnier (Gẫm), bên kia đại lộ Bourdais, nay là đại lộ Hùng Vương và hoàn thành vào năm 1910. Về cơ bản, nhà thờ này giữ lại lối kiến trúc của Nhà thờ Vĩnh Tường. Do xây dựng trên nền đất sình nên chiều cao của nhà thờ phải hạ thấp để đảm bảo an toàn. Ngôi nhà thờ có chiều cao 24m, chiều dài 53m, chiều rộng hơn 17m, một gian chính và hai gian phụ hai bên. Kết cấu chính của tòa nhà được xây theo lối cột tròn chống đỡ, mái vòm được trang trí bằng nhiều hoa văn, họa tiết tinh xảo.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII ban hành Sắc chỉ Venerabilium Nostrorum thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đồng thời tổ chức lại các giáo phận cũ và mới, trong đó có việc thiết lập Giáo phận Mỹ Tho tách ra từ Giáo phận Sài Gòn. Kể từ đây nhà thờ Mỹ Tho được nâng lên thành Nhà thờ chính tòa với tước hiệu “Đức Mẹ Vô Nhiễm”.

Chuông nhà thờ đầu tiên được dựng bên hông nữ. Đến năm 1958, linh mục Phaolô Nguyễn Minh Chiếu đã di dời chuông lên tháp cao bên nam. Ngày 16 tháng 2 năm 1995, linh mục Giuse Nguyễn Văn Chúc cho xây dựng lại một tháp chuông khác tách rời nhà thờ, tức là tháp chuông hiện nay.

Dịp Năm Thánh 2000, Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc đã cử hành Lễ Cung Hiến Nhà thờ chính tòa Mỹ Tho và chọn ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời làm ngày lễ Bổn mạng thứ hai của Nhà thờ.

Năm 2006, mừng kỷ niệm 100 năm ngày xây dựng nhà thờ, linh mục Giacôbê Hà Văn Xung đã tiến hành trùng tu và nới rộng nhà thờ, thay mái ngói, xây dựng lại phòng thánh, cải tạo tháp chuông và đặt đàng Thánh Giá xung quanh nhà thờ.

Đình Điều Hòa

Di tích tọa lạc tại số 101, đường Trịnh Hoài Đức, phường 2, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Đình Điều Hòa là một công trình kiến trúc nghệ thuật có quy mô xây dựng lớn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện qua cấu trúc xây dựng và các mảng chạm khắc trang trí bên trong.

Do nằm trong địa vực trung tâm thành phố, giữa khu dân cư nên việc đi đến di tích bằng các phương tiện giao thông đường bộ rất thuận tiện. Từ ngã ba Trung Lương trên Quốc lộ I, rẽ vào đường Ấp Bắc chạy thẳng xuống đường Nguyễn Trãi, quẹo qua Hùng Vương chạy về hướng Chợ Gạo, qua khỏi Cầu Quay rẽ trái vào đường Trịnh Hoài Đức khoảng 300m là đến di tích.

Đây là nơi tập trung và bảo tồn nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Tiền Giang. Hiện trong đình còn lưu giữ, bảo quản các sưu tập lư, đỉnh đồng, sưu tập binh khí thờ, và nhiều cổ vật gốm sứ của Trung Quốc thế kỷ XVIII – XIX. Đặc biệt là nghi thức hành lễ cúng bái trong đình có từ các thế kỷ trước vẫn còn lưu lại cho đến nay.

Trên mặt dựng của cổng có 3 chử Hán “Đình Điều Hòa”, phía sau trang trí một một bức tranh “Thất Hiền Quá Hải”, bên dưới thân trụ cổng có đôi câu đối của ông Cao Xuân Dục viết tặng đình khi về thăm đình vào năm Duy Tân thứ I. Nội dung:

“Tứ hải bổn đồng phùng thuận trị
Nhất thôn phong hóa hảo Điều Hòa ”

Với phong cách kiến trúc nghệ thuật thời nhà Nguyễn, đình Điều Hòa xứng đáng là di sản văn hóa quý hiếm của nhân dân Tiền Giang nói riêng, và nhân dân cả nước nói chung.

Do có ý thức bảo quản gìn giữ tốt và thường xuyên được nhân dân địa phương đóng góp tu bổ, nên ngày nay Đình Điều Hòa rất khang trang, giữ nguyên được giá trị sử dụng ban đầu và còn nhiều cổ vật quý hiếm có từ khi đình mới được thành lập vào thế kỷ XVIII. Đồng thời cũng thu hút được nhiều khách tham quan lui tới nhất là các dịp cúng lệ Kỳ yên hàng năm của đình (16-17-18 tháng 02 và 16-17-18 tháng 10 âm lịch)

Di tích Rạch Gầm – Xoài Mút

Khu di tích chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút tọa lạc tại ấp Đông, xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, Việt Nam; cách thành phố Mỹ Tho hơn 10 km.

Khu di tích nằm cạnh bờ sông Tiền và tỉnh lộ 864, nên rất thuận tiện cho khách tham quan. Với tổng diện tích hơn 02 ha, khu di tích gồm tượng đài Nguyễn Huệ, nhà trưng bày (số 1 và số 2), và một nhà cổ Nam Bộ. Đây là một khu di tích đẹp, thoáng mát.

– Tượng đài anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ nằm ngay trung tâm của di tích. Tượng làm bằng đồng nặng 20 tấn, cao hơn 8 mét, được đặt trên bệ cao mô phỏng hình chiến thuyền. Tượng vị anh hùng được tác giả thể hiện trong tư thế rút gươm rất uy dũng. Bên cạnh ông là một binh sĩ đang dương cung và một người dân bản địa đang chèo thuyền tạo thành một thể thống nhất hài hòa.
– Nhà trưng bày số 1: trưng bày dãy tranh ghép gốm và nhiều hiện vật liên quan đến trận đánh.
– Nhà trưng bày số 2: trưng bày bộ sưu tập hiện vật về Rạch Gầm – Xoài Mút, có khoảng 546 hiện vật lớn nhỏ bao gồm những phương tiện sử dụng và vũ khí của cả hai bên.
– Nhà cổ Nam Bộ: 3 gian, 2 chái, 48 cột gỗ căm xe, mái ngói âm dương, có diện tích 225 m2. Trong nhà các vật dụng được xếp đặt nhằm tái hiện lại cuộc sống của những người dân phú nông của đất Nam Bộ xưa. Ngôi nhà cổ này đuọc phục chế lại và chuyển nguyên vẹn từ huyện Gò Công về.

Lăng Hoàng Gia

Lăng Hoàng Gia là nơi yên nghỉ của những người quá cố thuộc dòng họ Phạm Đăng nổi tiếng ở Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang (Việt Nam).

Lăng Hoàng Gia được xây trên gò Sơn Quy (có hình con rùa nên dân gian gọi là Gò Rùa, sau được vua Tự Đức đổi thành Sơn Quy) thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Khu lăng được xây dựng trong nhiều năm liền trên diện tích gần 3.000m2, nằm cách thị xã Gò Công khoảng 2km và cách thành phố Mỹ Tho khoảng 30km.

Dòng họ Phạm đã sống lâu đời và nổi tiếng ở đất Gò Công. Ông Phạm Đăng Khoa là người khai hoang lập nghiệp ở xứ này. Phạm Đăng Hưng là hậu duệ đời thứ tư. Vì là ông ngoại vua Tự Đức, cha của Hoàng thái Hậu Từ Dụ, tước Đức Quốc công, nên sau khi Phạm Đăng Hưng mất (1825), triều đình nhà Nguyễn cho xây dựng tại đây nhà thờ và lăng mộ dòng họ Phạm Đăng đúng theo kiến trúc dành cho lăng tẩm vua quan lúc bấy giờ, và được người đời gọi là Lăng Hoàng Gia.

Khu Lăng được xây dựng bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân địa phương cùng các nghệ nhân cung đình từ Huế được phái vào, nên lăng mang những nét đặc trưng và phong cách của kiến trúc cung đình Huế.

Sau khi phải ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (3 tháng 6 năm 1862) với thực dân Pháp, vua Tự Đức đã sai Phan Thanh Giản sang Pháp xin chuộc đất, một phần cũng vì lo sợ khu lăng mộ họ Phạm và khu lăng mộ họ Hồ (xem trang Hồ Văn Bôi) ở Biên Hòa bị đối phương xâm hại. Đến khi Hòa ước Giáp Tuất (15 tháng 4 năm 1874) được ký giữa Pháp và Nam triều, việc bảo vệ khu hai đền mộ này được quy định tại điều khoản 5.

Đình Trung 

Trước đây còn được gọi là Đình Thành Phố Thôn hay Đình Làng Thành Phố. Nay gọi là Đình Trung là do đình tập trung thờ 3 sắc thần của vua Tự Đức phong cho 3 ngôi đình thôn của Gò Công.

Đình được chia làm 3 toà : toà Võ ca và toà Võ quy và Toà Chánh điện.

Biểu tượng thiêng liêng được tôn thờ trong toà Chánh điện là chữ “THẦN” được chạm nổi sơn đen, xung quanh là rồng phượng hoa lá sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Chữ THẦN tượng trưng cho vị thượng đẳng thần “Thành Hoàng Bổn Cảnh” với nét sổ đứng mạnh mẽ như cột trụ, chống đở cho cả vùng “bổn cảnh”, và nét oai linh “hộ quốc, tí dân” bảo vệ tổ quốc, phò hộ dân lành .

Đình Trung có nét đặc biệt hơi khác các đình trong nam là hướng mặt về hướng bắc nhưng bên trong cách bố trí vẫn theo cách của đình truyền thống theo hướng nam.

Nhà Đốc Phủ Hải

Tọa lạc tại vị trí đắc địa với ba mặt tiền đường Trần Hưng Đạo – Hai Bà Trưng – Lê Thị Hồng Gấm thuộc phường 1, thị xã Gò Công, ngôi nhà của Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Hải là một công trình kiến trúc cổ độc đáo với những nét chạm trổ cầu kỳ, khoáng đạt thể hiện sự vương giả của gia đình chủ nhân còn được bảo tồn hầu như nguyên vẹn.

Theo các tài liệu còn lưu truyền, ngôi nhà đầu tiên được bà Sanh dựng theo lối chữ Đinh [丁], một kiểu nhà truyền thống có xuất xứ từ miền Trung khá phổ biến lúc bấy giờ. Sau nhiều đợt tu bổ và xây dựng, hiện ngôi nhà là một tổ hợp kiến trúc gồm nhà chính ở phía trước (533,26m²), hai nhà vuông ở hai bên (196,4m²), lẫm lúa hay kho thóc ở phía sau bao quanh một sân trời ở giữa tạo thành hình chữ Khẩu [口]. Có người đã cho rằng ngôi nhà được làm theo lối “nội Công ngoại Quốc”, nghĩa là bên trong hình chữ Công [工], bên ngoài hình chữ Quốc [國] hoặc chữ Khẩu [口], song nhận định như thế e có phần phiến diện, bởi thực tế đã không minh chứng được điều đó.

Nhà chính được làm theo kiểu ba gian hai chái, có mặt tiền quay về hướng chính Bắc (chính phương triều đẩu), phần phía sau có cửa mở quay về phương Nam (trung đường sinh bối điện Nam cô). Các phần bên ngoài được xây dựng bởi vôi, vửa, mái lợp ngói âm dương được nâng đỡ bởi 36 cột, trong đó có 30 cột là gỗ căm xe và gõ. Bên trong nhà tiền đường, các cột được liên kết với nhau bằng các dãy bao lam bằng gỗ chạm hai mặt, thể hiện các đề tài tứ linh, tứ qúy, bát bửu… Xen kẻ các bao lam còn có các liễn đại tự, trên các cột là các đôi liễn đối với các tích truyện Tàu thể hiện triết lý Nho-Lão-Phật, các đề tài tứ qúy hay nhạc cụ cổ truyền Việt Nam như đàn bầu, tỳ bà, sáo trúc được khảm xà cừ, trên gian khánh thờ có hình lưỡng long triều nguyệt chạm trỗ tỉ mỉ và thếp vàng…

Gian tiền sảnh phía trước được thiết kế theo mô-típ châu Âu đặc trưng với các đầu cột và vòm cửa chạm nổi hoa văn dây nho. Tại đây các xiên trính cũng được chạm ở ba mặt và cả hai đầu, các đố và vòm cửa là các bao lam hình chữ nhật hoặc vuông, trang trí các đề tài gắn liền với đời sống cư dân Nam bộ như tứ qúy, hoa, trái, chim, thú… được lồng kính vừa có tác dung ngăn mưa, gió vừa bảo vệ các tác phẩm chạm trỗ bền vững với thời gian.

Không gian Á Đông của ngôi nhà còn được bổ khuyết bởi các vật dụng phương Tây thuộc loại sang trọng và qúy hiếm như các bộ bàn ghế chạm nổi hoặc khảm xà cừ theo phong cách Louis cổ điển Pháp, bàn đá cẩm thạch, tủ gỗ sản xuất tại Pháp, bàn trang điểm, đèn treo trần nhà kiểu Châu Âu, hai bộ đi-văng bằng đá cẩm thạch màu trắng vân đen…; đồ sứ Trung Hoa và Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII đáng chú ý có chiếc đôn sứ Giang Tây, chiếc độc bình cổ, hai chiếc ché gốm màu hoa văn rồng nổi… Ngoài ra còn có các bức tranh vẽ trên kính, hai bộ tranh tứ thời bằng hạt cườm rất hiếm, tám tấm tranh thêu đề tài Tùng-Trúc-Cúc-Mai, Xuân-Hạ-Thu-Đông, đặc biệt có hai bức ảnh bán thân bằng xà cừ của bà Điệu và ông Hải, chiếc giường Thất Bảo kiểu Quảng Đông có mặt lát sáu tấm đá cẩm thạch màu sắc khác nhau với thanh chân chạm nổi hoa lá và khảm xà cừ…

Với những giá trị độc đáo và hiếm có, từ năm 1980 – 1999, Nhà Đốc phủ Hải được Thị ủy và Ủy ban Nhân dân thị xã Gò Công sử dụng làm Nhà truyền thống thị xã Gò Công. Từ năm 2000 đến nay, ngôi nhà được trả lại tên gọi “Nhà Đốc phủ Hải” phục vụ khách tham quan.

Công trình Nhà Đốc phủ Hải đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo quyết định số 921 ngày 20-7-1994.

Dinh Tỉnh Trưởng

Dinh tỉnh trưởng Gò Công có quy mô một trệt, một lầu với diện tích sử dụng 1.400 m2, nằm trong khuôn viên rất rộng, cảnh quan nên thơ.

Nếu nhà đốc phủ Hải (tức nhà cũ của bà Trần thị Sanh, vợ anh hùng Trương Định, xây năm 1860, xin xem tại đây) là ngôi tư gia lớn nhất thì dinh Chánh tham biện Gò Công (xây năm 1885) là trụ sở cơ quan công quyền lớn nhất ở Gò Công. Thế nhưng số phận 2 ngôi nhà này đối nghịch hẳn với nhau. Nhà Đốc phủ Hải được giữ gìn gần như hoàn chỉnh, kể cả hiện vật bên trong, được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Dinh Chánh tham biện Gò Công thì bên trong không còn gì cả và bản thân ngôi nhà thì sắp sập!

Sau 1975, dinh tỉnh trưởng này được giao cho nhiều cơ quan khác nhau quản lý, hiện giờ là Trung tâm Văn hóa Thể thao thị xã Gò Công.

Năm 1985, phía Pháp có gửi một công văn cho Gò Công đề nghị ngưng sử dụng Dinh tỉnh trưởng Gò Công, lý do là niên hạn sử dụng theo thiết kế là 100 năm, đến thời điểm ấy đã hết. Không có kinh phí, Gò Công không hề có một động thái nào để duy tu, bảo dưỡng ngôi nhà cả.

Đã vậy, điều không ngờ đến lại xảy ra. Không hiểu vì lý do gì, chim yến bay về làm tổ bên trong dinh tỉnh trưởng Gò Công rất nhiều. Của trời cho, năm 2006 dinh được chính quyền ký hợp đồng cho Công ty TNHH Yến Gò Công thuê để… làm nơi nuôi yến!

Về kỹ thuật nuôi yến, nơi ở của chim phải có ánh sáng từ mờ tối đến tối, nhiệt độ không khí khoảng 28ºC, độ ẩm 80%, lại còn phải tạo độ ẩm bằng cách phun sương. Đơn vị thuê đã thực hiện những điều đó, khiến ngôi nhà đã hết niên hạn sử dụng lại càng nhanh xuống cấp. Có thể ví dinh tỉnh trưởng Gò Công như một người già, đã chẳng được chăm sóc đàng hoàng mà lại còn bị hành hạ nữa!

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Đồng Nai

Trước phản ứng của dư luận, cuối năm 2011, chính quyền đã cắt hợp đồng với công ty nuôi yến. Dù sao 5 năm trời cũng đã làm tàn tạ thêm dung mạo và sức khỏe của ông già trên trăm tuổi nhiều lắm.

Ở thời điểm cắt hợp đồng nuôi chim yến cuối năm 2011, chính quyền thị xã Gò Công cho biết đến đầu năm 2012 sẽ tôn tạo lại di tích này.

Đền Thờ Anh Hùng Dân Tộc Trương Định

Lăng Trương Định hay Lăng Trương Công Định là lăng mộ của vị anh hùng dân tộc Trương Công Định (Trương Định) Lăng hiện tọa lạc tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Lăng Trương Định là di tích lịch sử là kiến trúc dạng mộ táng tiêu biểu của người Việt ở Nam bộ. Khu lăng Trương Định có hai phần:

– Mộ được xây bằng đá ong với hồ ô dước, trên diện tích 67m2.
– Đền thờ xây dựng theo kiến trúc Đông phương vừa cổ kính, vừa tân thời với các án thờ, khuôn biển chạm trổ sơn son thiếp vàng.

Cầu Rạch Miễu

Cầu Rạch Miễu là cầu dây văng nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre với nhau. Bờ bắc của cầu này là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bờ nam là huyện Châu Thành của tỉnh Bến Tre, cách tỉnh lỵ Bến Tre (thành phố Bến Tre) 14 km. Đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam. Cây cầu này khi hoàn thành giúp tỉnh Bến Tre thoát khỏi thế cô lập về giao thông bộ. Ngoài cầu chính, công trình này còn bao gồm đường dẫn hai đầu.

– Chiều dài: 8331 m kể cả đường nối hai đầu cầu. Riêng phần cầu chính gồm 2 cầu số 1 và số 2 có tổng chiều dài 2.868 m, trong đó có một phần là kết cấu dây văng bố trí nhịp 117m+270m+117m, chiều cao tĩnh không thông thuyền 37,5m. Ở giữa cầu là cù lao Thới Sơn. Cầu số 2 dài 990m gồm các nhịp có chiều dài tới 90m để thông thuyền với chiều cao 7m là dầm bêtông cốt thép dự ứng lực thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng. Các nhịp cầu dẫn là nhịp dầm Super T chiều dài mỗi nhịp 40m. Hai đoạn đường nối hai đầu có tổng chiều dài 5.463mvà 2 cầu chính có tổng chiều dài 2.868m bắc qua hai nhánh sông Tiền Giang và cồn Thới Sơn.
– Chiều dài nhịp chính: chiều dài 270 m và chiều cao thông thuyền là 37,5 m cho phép tàu 10.000 tấn có thể đi qua.
– Chiều rộng cầu: rộng 15 m cho 2 làn xe ô tô và 2 làn xe máy có phần đường cho người đi bộ hai bên
– Tổng thầu thi công: liên danh Taisei – Kajima – Nippon Steel (TKN);Liên danh TKN làm lãnh đạo liên doanh, Thi công nhịp chính:TKN
– Tải trọng cầu: 60 tấn
– Tổng mức đầu tư khoảng : 3.300 tỷ đồng

Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60 bắc qua sông Tiền, cách bến phà cũ khoảng 1 km về phía thượng lưu. Đây là chiếc cầu dây văng lớn thứ ba được xây dựng ở đồng bằng sông Cửu Long (cầu Mỹ Thuận do Úc thiết kế và thi công, cầu Cần Thơ do Nhật thiết kế và thi công) và Rạch Miễu là cây cầu đầu tiên do chính các kỹ sư Việt Nam thiết kế và thi công theo công nghệ mới.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!