READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại S...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn

Sài Gòn vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ, là thành phố lớn nhất Việt Nam về dân số và kinh tế, đứng thứ hai về diện tích, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương được xếp loại đô thị loại đặc biệt của Việt Nam (cùng với thủ đô Hà Nội).

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, được Pháp mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” (“la perle de l’Extrême-Orient”) hoặc một “Paris nhỏ ở Viễn Đông” (“le petit Paris de l’Extrême-Orient”).

Là một trong hai trung tâm truyền thông của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 38 đơn vị báo chí thành phố và 113 văn phòng đại diện báo chí trung ương và các tỉnh, 3 nhà xuất bản của thành phố và 21 chi nhánh nhà xuất bản trung ương cùng mạng lưới thông tấn xã, các đài phát thanh, truyền hình địa phương và trung ương. Tổng cộng, trên địa bàn thành phố hiện nay có trên một nghìn người hoạt động trong lĩnh vực báo chí. Nào cùng xem những công trình có kiến trúc đẹp tại Sài Gòn nhé!

Chợ Bến Thành

Chợ nằm giữa các đường Phan Bội Châu – Phan Chu Trinh – Lê Thánh Tôn – Công trường Quách Thị Trang) tại phường Bến Thành, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh vớ diện tích: 13.056 m². Ngành hàng kinh doanh chủ yếu: Quần áo, vải sợi, giày dép, thời trang, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm tươi sống, trái cây, hoa tươi.

Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái).

Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.

Ngân hàng Nhà Nước

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của Việt Nam trực thuộc Chính phủ Việt Nam là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các ngân hàng thương mại nhà nước.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Huế

Thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã quản lý và phát hành tiền tệ thông qua Ngân hàng Đông Dương, một ngân hàng có vai trò là ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại trên khu vực Đông Dương thuộc Pháp.

Sau Cách mạng tháng 8, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước xây dựng nền tài chính tiền tệ độc lập.

Ủy ban Thành Phố

Trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những công trình kiến trúc cổ kính nổi tiếng của Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, được thi công xây dựng từ năm 1898 đến 1909 do kiến trúc sư Femand Gardès thiết kế mô phỏng theo kiểu những lầu chuông ở miền bắc nước Pháp. Thời Pháp thuộc, tòa nhà này có tên là Hôtel de ville trong tiếng Pháp hay Dinh xã Tây trong tiếng Việt.

Đến thời Việt Nam Cộng hòa gọi là Tòa đô chánh Sài Gòn hay Tòa đô sảnh Sài Gòn, là nơi làm việc và hội họp của chính quyền thủ đô. Từ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, tòa nhà là nơi làm việc của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay là số 86 đường Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, nằm ngay ở đầu đại lộ Nguyễn Huệ.

Khách Sạn Rex

Khách sạn Rex là một khách sạn hạng sang nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh, thuộc sở hữu của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Sai Gon Tourist)

Được xây dựng năm 1927 cho doanh nhân người Pháp Bainier trong thời Pháp thuộc, tòa nhà này ban đầu là một khu nhà để xe và nơi bán ô tô hai tầng. Tại đây trưng bày các mẫu xe Citroën cũng như các dòng xe ô tô châu Âu khác. Từ 1959 đến 1975, ông bà Nguyễn Phúc Ưng Thị đã nâng cấp công trình thành khách sạn “Rex Complex” 100 phòng với 3 rạp chiếu bóng, một nhà hàng, một sàn nhảy và một thư viện.

Nhà hát Thành Phố

Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh (thường được gọi ngắn gọn là Nhà hát Thành phố hoặc Nhà hát Lớn) là một nhà hát có mặt tiền hướng ra Công trường Lam Sơn và đường Đồng Khởi, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nằm ở một vị trí thuận lợi tại trung tâm thành phố, nhà hát được xem là nhà hát trung tâm, đa năng chuyên tổ chức biểu diễn sân khấu nghệ thuật đồng thời cũng được sử dụng để tổ chức một số sự kiện lớn. Đây cũng là nhà hát thuộc loại lâu đời theo thiết kế xakiến trúc Tây Âu và được xem như một địa điểm tham quan của thành phố này.

Nhà hát lớn Sài Gòn là một đối trọng về mặt kiến trúc với Nhà hát lớn Hà Nội (cất năm 1911, kiến trúc theo mẫu Opéra Garnier tại Paris, 900 chỗ ngồi, kiến trúc sư Broger et Harloy). Nhà hát Sài Gòn giữ riêng nét đặc thù có một không hai. Tác giả của tòa kiến trúc này là các kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard và Eugène Ferret xây dựng năm 1900 theo lối kiến trúc “flamboyant” của thời Đệ tam cộng hòa Pháp. Cửa mặt tiền chịu ảnh hưởng nghệ thuật khá rõ nét của Petit Palais cất cùng năm tại Pháp. Thiết kế bên trong tân tiến với đầy đủ thiết bị cho âm thanh và ánh sáng. Ngoài tầng trệt còn 2 tầng lầu tổng cộng 1800 chỗ ngồi.

Toàn bộ các mẫu trang trí, phù điêu mặt tiền và nội thất đều được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ 19 và gửi từ Pháp qua.

Tuy vậy, về phần trang trí ở mặt tiền nhà hát cũng có nhiều lời chỉ trích. Theo phong cách Đế quốc (sau được trang trí thêm theo phong cách Beaux Arts, rồi giản tiện hóa kiểu Art Deco), mặt tiền nhà hát được trang trí nhiều phù điêu và tượng đắp nổi (giống như Toà thị chính), nên bị chỉ trích là khá rườm rà và rối rắm. Vì vậy vào năm 1943, một số chi tiết trang trí này đã bị dỡ bỏ nhằm trẻ trung hóa phong cách kiến trúc.

Vào năm 1998, nhân dịp kỷ niêm 300 thành lập Thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền đương thời phục hồi chức năng cũ là nhà hát thành phố cũng như đã cho phục hồi một số trang trí như tượng 2 nữ thần nghệ thuật, các dây hoa, hai cây đèn… trong đợt cải tạo và nâng cấp nhà hát. Tổng kinh phí trùng tu phục chế vào khoảng 25 tỷ đồng thời giá bấy giờ.

Khách sạn Continental

Khách sạn Continental là một khách sạn lịch sử nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở số nhà 132 – 134 đường Đồng Khởi. Khách sạn bắt đầu xây vào năm 1878 dưới thời Pháp thuộc, do ông Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây cất và dụng cụ trong nhà. Ông Cazeau muốn mở một khách sạn sang trọng để tiếp đón các du khách từ Pháp đến Sài Gòn sau một cuộc hải hành rất dài từ “mẫu quốc”. Xây cất mất 2 năm, và Khách sạn Continental khánh thành năm 1880.

Cùng trong khoảng thời gian này, những kiến trúc nổi tiếng khác cũng đã được người Pháp xây dựng ở Sài Gòn: Nhà thờ Đức Bà xây năm 1880 (cách Khách sạn Continental 5 phút đi bộ), Bưu điện Sài Gòn năm 1886, và Tòa Đô Chánh Sài Gòn năm 1898.

Năm 1911, khách sạn được bán cho Công tước De Montpensier (người xây Lầu Ông Hoàng ở Phan Thiết). Năm 1930, khách sạn được bán cho một tay trùm tội phạm từ đảo Corse tên Mathieu Francini. Francini quản trị khách sạn cho tới năm 1975. Trong những thập niên 1960-1970, chánh phủ Sài Gòn bắt các cơ sở thương mại phải dùng bảng hiệu tiếng Việt, vì thế khách sạn có tên là “Đại Lục Lữ Quán”.

Khách sạn Caravelle

Khách sạn Caravelle SaiGon là một khách sạn 5 sao nằm ở số 19, Công Trường Lam Sơn, P. Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa điểm nguyên thủy của Khách sạn Caravelle vào thời Pháp thuộc là quán Grand Cafe de la Terrasse, một trong những quán cà phê đầu tiên và nổi tiếng của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX. Còn công trình như hiện nay bắt đầu xây năm 1957, được khai trương vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh năm 1959. Khách sạn Caravelle lúc bấy giờ là tòa nhà hiện đại và cao nhất Sài Gòn, giá một đêm là 17 Mỹ kim; lầu thứ 8 có quán Jerome có thang máy, máy lạnh, nước nóng, điện thoại. Vì lý do an ninh, cửa kính dùng loại kính chống đạn.

Công trình kiến trúc nguyên thủy của thập niên 1950 gồm cao ốc chín tầng (10 tầng kể cả sân thượng) và một tòa nhà kế bên năm tầng, chủ yếu là nhà phụ thuộc chứa các thiết bị máy móc cho cao ốc chính. Tầng trệt cao ốc chính có sảnh chờ của khách sạn và văn phòng thương mại của hãng Air France. Phía dưới là nhà hầm. Tầng hai đến tầng sáu là khách sạn, mỗi tầng 13 căn, tổng cộng là 43 căn. Tầng bảy là đại sứ quán của Úc. Tầng tám và chín là nhà hàng. Trên cùng là sân thượng (tầng 10).

Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm

Tu viện Thủ Thiêm là tu viện của Dòng Mến Thánh Giá hiện tọa lạc tại phường Thủ Thiêm, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Được thành lập năm 1840, đây là tu viện đầu tiên của nhà dòng này tại Sài Gòn, và là thứ hai tại Miền Nam Việt Nam, sau Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum (thành lập năm 1800).

Theo các tài liệu xưa, sau cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi vào năm 1833, triều đình vua Minh Mạng ra chỉ dụ bắt đạo Công giáo. Các nhà thờ, tu viện bị tàn phá, linh mục, tu sĩ, giáo dân ly tán khắp nơi, trong số đó có các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá. Trong hoàn cảnh chạy loạn, một số nữ tu Dòng Mến Thánh Giá đã đến dừng chân ở Thủ Thiêm và họ bắt đầu lập tu viện ở đây vào năm 1840. Ban đầu, tu viện chỉ là ngôi chòi lá dựng gần gốc cây.

Thủ Thiêm ngày ấy là một khu rừng hoang vắng, dân cư sống rải rác, chỉ có vài ngôi chùa, miễu của người Miên và người Thổ. Lo ngại thú rừng, các nữ tu tạm rời ngôi chòi cạnh gốc cây để men theo kinh Lắp đến tá túc tại chợ Vải, Bến Thành. Trong giai đoạn này, nhà thờ Giáo xứ Thủ Thiêm được thành lập vào năm 1859 nên đến năm 1863, sau khi tạm trú tại Bến Thành, các nữ tu quay về Thủ Thiêm và dựng lại tu viện bên cạnh nhà thờ này để tiện đi tham dự thánh lễ. Nhờ sự hỗ trợ của các chủng sinh tại Xóm Chiếu, họ xây dựng được một nhà nguyện mái tranh vách ván và một dãy nhà được ngăn ra nhiều gian để ở. Họ bắt đầu có phương tiện sinh sống như nuôi tằm, kéo sợi, dệt vải, dệt chiếu, làm ruộng, vườn…

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại TP HCM

Đến thập niên 1960, Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đã xây dựng lên ba trường học gồm trường Nữ Thủ Thiêm, trường Nam Thủ Thiêm và trường Nữ thánh Anna với tổng diện tích 4000m². Sau năm 1975, Giáo phận Sài Gòn cam kết “sẵn sàng để Nhà nước sử dụng các cơ sở tư thục Công giáo trong Giáo phận Sài Gòn vào công tác giáo dục”, theo nội dung một văn bản của Tổng giám mục Sài Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình ký. Nhưng kể từ cuối 2011, với dự án xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm của Quận 2, ba ngôi trường này đã ngưng hoạt động, không còn được sử dụng cho mục đích giáo dục nữa, và do đó Dòng Mến Thánh Giá viết đơn yêu cầu chính quyền trả lại.

Bưu điện Thành Phố

Bưu điện trung tâm Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, tọa lạc tại số 2, Công trường Công xã Paris, Quận 1. Đây là tòa nhà được người Pháp xây dựng trong khoảng năm 1886–1891 với phong cách châu Âu theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Đây là công trình kiến trúc mang phong cách phương Tây kết hợp với nét trang trí phương Đông.

Bên ngoài, phía trước tòa nhà trang trí theo từng ô hình chữ nhật, trên đó ghi danh những nhà phát minh ra ngành điện tín và ngành điện. Trên các ô có đắp hình các nam nữ đội vòng nguyệt quế, trên vòng cung ngôi nhà có chiếc đồng hồ lớn. Vào phía trên trong, hai bên tường cao là hai bản đồ lịch sử mang tên: Saigon et ses environs, 1892 và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936.

Nhà thờ Đức Bà

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn (tên chính thức: Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, tiếng Anh: Immaculate Conception Cathedral Basilica, tiếng Pháp: Cathédrale Notre-Dame de Saïgon, gọi tắt là Nhà thờ Đức Bà) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những công trình kiến trúc độc đáo của Sài Gòn, điểm đến của du khách trong và ngoài nước, nét đặc trưng của du lịch Việt Nam.

Ban đầu, hai tháp chuông cao 36,6 m, không có mái và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng 40 cm bề ngang.

Nội thất gác chuông rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút. Vào năm 1895, thánh đường xây thêm hai mái chóp để che gác chuông cao 21 m, theo thiết kế của kiến trúc sư Gardes, tổng cộng tháp chuông cao 57 m.

Có tất cả sáu chuông gồm sáu âm, treo trên hai tháp chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879.

Từ ngoài nhìn vào, trên tháp bên phải treo 4 quả chuông (sol, đô, rê, mi); tháp bên trái treo 2 chuông (la, si).

Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo. Tổng trọng lượng bộ chuông là 27.055 kg tức khoảng 27 tấn, nếu tính luôn hệ thống đối trọng (1.840 kg) được gắn trên mỗi quả chuông thì tổng trọng lượng của bộ chuông sẽ là 28.895 kg.

Xem thêm: Những nhà thờ có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

Nhà thờ Hạnh Thông Tây do ông Lê Phát An (1868-1946) bỏ tiền ra xây dựng. Lê Phát An là con của ông Lê Phát Đạt (tức Huyện Sỹ) – một trong bốn đại điền chủ nổi tiếng nhất Nam Bộ thời đó, ông An cũng là cậu ruột của hoàng hậu Nam Phương. Thời điểm xây từ năm 1921-1924 do nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte thi công.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây được xây dựng theo phong cách kiến trúc Byzantine, mô phỏng Vương cung thánh đường Thánh Vitale ở thành phố Ravenna, Ý. Trong khi đa phần nhà thờ ở Việt Nam đều theo phong cách Kiến trúc Gothic hoặc Roman.

Nhà thờ có chiều dài 40 mét, rộng 14 mét, cao 16 mét, vòm 20 mét, tháp chuông 30 mét (năm 1952 giảm xuống còn 19,5 mét vì lý do an ninh hàng không). Phía trên cửa trước nhà thờ Hạnh Thông Tây có tượng Thánh Denis là thánh quan thầy của ông Denis Lê Phát An. Trên nóc vòm nhà thờ được trang trí tranh khảm theo phong cách Byzantine mô tả cảnh Chúa Giêsu chết trên thập giá, một số hình ảnh các vị thánh khác như: Thánh Giuse bế Chúa Giêsu Hài Đồng, 11 thánh nữ là Thánh Anna, Maria Mađalêna, Veronica, Lucia, Cecilia, Agnes, Claira, Jeanne d’Arc, Germaine. Bên trong, người ta dùng gạch của Ý để xếp thành hình giống như nhà thờ Thánh Assisi hay Thánh Maria của Ý.

Nhà thờ Chợ Quán

Giáo xứ Chợ Quán (thành lập năm 1723) là một họ đạo cổ xưa tại Sài Gòn được thành lập bởi việc quy tụ giáo dân miền Bắc và miền Trung di cư đến nơi đây để tránh việc bắt đạo. Tên gọi Chợ Quán không rõ có từ khi nào, nhưng theo nguồn truyền miệng từ lâu thì các giáo dân này có cùng nghề, cùng đức tin nên tạo nên một xóm đạo có nhiều chợ, nhiều lều quán sinh hoạt nội bộ nên hình thành cái tên Chợ Quán.

Nhà thờ Chợ Quán được khởi công xây dựng năm 1887 và khánh thành vào mùng 4 Tết Bính Thân (năm 1896). Công trình mang kiến trúc Gothic, các cánh cửa đều theo cấu trúc mái vòm cong, những cột đá to với những hoa văn độc đáo, mái ngói đỏ đã thẩm màu rêu phong cổ kính.

Tháp chuông nhà thờ gồm có ba tầng: tầng kéo chuông, tầng để chuông và tầng mái trên cùng với tổng cổng năm quả chuông: hai quả chuông kéo trong ngày thường, hai quả chuông dùng cho các dịp lễ quan trọng và một quả chuông để báo tử. Trong dịp lễ đặc biệt thì mới kéo tất cả năm quả chuông cùng một lúc.

Nhà mồ PETRUS Trương Vĩnh Ký

Nơi an nghỉ của cụ Trương Vĩnh Ký – người Việt được vinh danh là một trong 18 nhà thông thái thế giới tọa lạc ở số 520 Trần Hưng Đạo, thuộc quận 5 TP HCM. Cổng vào nhà mồ xây kiểu tam quan truyền thống của người Việt.

Nhà mồ được xây vào năm 1889 theo phong cách kiến trúc Pháp kết hợp với một số họa tiết phương Đông, có diện tích khoảng 50m2, nằm trong khuôn viên rộng hơn 2.000m2.

Trong nhà mồ có 3 mộ phần, gồm 3 bia đá khác màu có chiều rộng khoảng 1m, dài gần 2m, được lát bằng phẳng mà mới nhìn cứ tưởng là nền nhà mồ. Mộ cụ Trương Vĩnh Ký năm ở giữa, hai bên là người vợ Vương Thị Thọ và con trai cả Trương Vĩnh Thế.

Bia mộ cụ Trương khắc tên J.B. Petrus Trương Vĩnh Ký (chữ Pháp đầu dòng là tên đạo ông theo từ thuở ấu thơ ở quê hương Cái Mơn, Bến Tre) cùng năm mất và vài dòng thân thế. Trang trí mộ bia khá giản dị với hình cành lá bao quanh.

Nhà mồ có ba cổng, phía trên đều khắc các câu trích dẫn Kinh Thánh bằng chữ La tinh. Cổng chính khác dòng chữ FONS VITAE ERUDITIO POSSIDENTIS, nghĩa là “tri thức là nguồn sống cho ai sở hữu nó”.

Chùa Giác Lâm

Chùa Giác Lâm (chữ Hán 覺林寺: Giác Lâm tự) còn có các tên khác: Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm; là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở miền Nam Việt Nam.

Chùa đã được trùng tu lớn ba lần. Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang cho xây lại chùa lần thứ nhất vào năm 1798–1804. Đến năm 1906–1909, Hoà thượng Hồng Hưng với sự giúp sức của Hoà thượng Như Phòng, đã cho tôn tạo lại ngôi chùa một lần nữa. Các sự kiện này được ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành, nay còn treo trong chánh điện. Đầu năm 1999, chùa hoàn thành đợt trùng tu lần thứ ba.

Chùa Giác Lâm hiện nay có lối kiến trúc chữ Tam (Ξ) gồm ba dãy nhà ngang nối liền nhau (không kể các nhà phụ): chính điện, giảng đường và nhà trai (còn gọi là nhà Ông Giám). Chùa nguyên thủy không có cổng tam quan (cổng tam quan chỉ mới được xây dựng vào năm 1955), mái chùa gồm 4 vạt và các sống mái đều thẳng. Năm 2007, khởi công xây dựng khu giảng đường và tăng xá (phía bên phải chùa – theo hướng nhìn từ trong ra).

Chính điện với kiểu nhà dân gian truyền thống một gian hai chái, bốn cột chính hay còn gọi là tứ trụ. Bên trong điện khá rộng và sâu, có 56 cột to hơn vòng tay ôm màu nâu sẫm. Cột nào cũng được chạm khắc câu đối, thiếp vàng công phu. Giữa các hàng cột là các cửa võng, cũng được thiếp vàng, chạm trổ các đề tài trang trí truyền thống như tứ linh, tứ quý, hoa điểu….

Trong chùa có 113 pho tượng cổ, chủ yếu là tượng gỗ, chỉ có 7 tượng đồng. Có nhiều tượng có giá trị như: Tượng Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Di Lặc Bồ Tát; Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Vương Bồ Tát, bộ tượng Cửu Long (đúc bằng đồng), bộ tượng Mười Tám Vị La Hán, tượng Thập Điện Diêm Vương, tượng Tổ Sư Đạt Ma, tượng Long Vương, v.v…

Thủy đài khổng lồ

Được người Pháp xây dựng năm 1886, thủy đài nằm tọa lạc ngay trong khuôn viên của Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco), quận 3, TP.HCM được xem là thủy đài cổ nhất còn tồn tại ở Sài Gòn.

Đây là một trong hai thủy đài cổ xưa nhất của Sài Gòn và cả ba nước Đông Dương. Trước đây, tại vị trí hồ Con Rùa còn có một tháp nước cổ được xây vào năm 1878 và bị đập bỏ năm 1921.

Thủy đài này dừng hoạt động vào khoảng năm 1930-1940, sau đó làm hệ thống cấp nước dự phòng trong trường hợp Sài Gòn thiếu nước.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nam Định

Toàn bộ kiến trúc thủy đài còn rất vững chắc, chỉ một số mảng tường bị bong tróc nhẹ, lộ lớp gạch. Hiện tại, thủy đài không còn sử dụng nhưng được công nhận là di tích kiến trúc của TP.HCM.

Đại chủng viện Thánh Giuse

Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn (tiếng Anh: Saint Joseph Seminary of Saigon) là một đại chủng viện được xây dựng từ năm 1863 bởi linh mục Wilbaux và Hội Thừa sai Paris, ngày nay nằm tại địa chỉ số 6 đường Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trước kia, đây vốn là một tổ hợp lớn gồm Đại chủng viện, Nhà thờ Thánh Phaolô, Chủng viện Thánh Phaolô, nhà nguyện, tu viện… được trùng tu lần cuối vào năm 1960.

Nhà thờ hiện nay là nơi thường cử hành lễ cho giáo dân người nước ngoài ở thành phố. Tại nhà trưng bày có ba dãy lầu gồm các phòng lưu trữ đồ cổ, sách cổ, di tích các Thánh tử đạo (như xương các thánh, gươm giáo, xiềng xích…), các tượng điêu khắc, tranh nghệ thuật tôn giáo và dân gian.

Biệt thự Nguyễn Văn Hảo

Nguyễn Văn Hảo (1890-1971) là một trong những thương gia người Việt giàu có nhất ở Sài Gòn từ thời Pháp thuộc cho đến những năm 1975. Ông từng là chủ của rạp Nguyễn Văn Hảo nổi tiếng, được ví là nhà hát “hàng không mẫu hạm” với sức chứa trên ngàn người và hiện đại nhất Sài Gòn vào thập niên 50.

Năm 1933, ông Hảo mua miếng đất ở đường Trần Hưng Đạo – Ký Con – Yersin- Lê Thị Hồng Gấm, 4 mặt tiền để xây nhà. Việc xây nhà từ năm 1933 cho đến năm 1937. Tòa nhà có diện tích 800 m2, được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp đang thịnh hành thời đó. Gạch bông lót nền nhà được đưa từ Pháp qua. Do lúc đó chưa có xi măng nên phải lấy mủ cây trộn với vôi cát, nước để xây. Hai bên hông nhà có khắc chữ NG.V.HAO.

Tằng trên cùng của tòa nhà có một hồ bơi nhỏ, tuy nhà có hai lầu nhưng sau này có gắn thang máy. Năm 1966, khi ông Hảo về quê, do không có nhu cầu sử dụng, con cháu ông đã tháo thang máy đem bán. Phía trước nhà mặt đường Trần Hưng Đạo ông Hảo cùng Hãng Caltex mở cây xăng. Còn lại bán đồ phụ tùng xe hơi. Phía sau là garage xe hơi. Dãy lầu trên garage có thêm 6 căn được cho thuê. Còn phía trên của dãy trước để toàn bộ đại gia đình ông ở. Ngoài tòa nhà này, ông Hảo còn mua miếng đất ở mặt tiền đường Bùi Viện – Trần Hưng Đạo – Đề Thám để xây cất hai dãy phố nhà lầu cho thuê.

Bảo tàng Mỹ thuật 

Tọa lạc tại số 97 Phó Đức Chính, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Bảo tàng được thành lập vào năm 1987 những mãi đến năm 1991 thì mới đi vào hoạt động. Cách trung tâm thành phố 10,2 km theo hướng Đông Nam. Các bạn hãy đi theo Trường Chinh, Cộng Hòa và Nguyễn Văn Trỗi đến Nam Kỳ Khởi Nghĩa tại phường 7. Từ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa chạy tới Ban Liên Lạc Tù Chính Trị vào Lý Tự Trọng thì rẽ trái 58m là tới bảo tàng.

Tòa nhà là sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc Á Đông (Trung Quốc) với châu Âu (Pháp) do chính ông Rivera – một kiến trúc sư người Pháp thiết kế vào năm 1929 và hoàn thành vào năm 1934.

Vào năm 1987, tòa nhà được lập thành Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiêu, do vì thiếu khá nhiều hiện vật nên mãi tới năm 1992 mới được đi vào hoạt động. Cho đến nay, bảo tàng đã trở thành một trong những trung tâm mỹ thuật lớn của Việt Nam. Là nơi lưu trữ rất nhiều tác phẩm điêu khắc, hội họa và cổ vật mỹ thuật lịch sử của đất nước và nhân loại. Bao gồm cả những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao như bức tranh sơn mài Vườn xuân Bắc Trung Nam của danh họa Nguyễn Gia Trí.

Dinh Độc Lập

Dinh Độc Lập (tên gọi trước đây là dinh Norodom, ngày nay còn gọi là dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất) là một công trình kiến trúc, tòa nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nó từng là nơi ở và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Hiện nay, nó đã được chính phủ Việt Nam xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

Dinh được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500 m², diện tích sử dụng 20.000 m², gồm 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và một sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Hơn 100 căn phòng của Dinh được trang trí theo phong cách khác nhau tùy theo mục đích sử dụng bao gồm các phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc của Tổng thống và của Phó Tổng thống, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến, v.v… chưa kể các phần khác như hồ sen bán nguyệt hai bên thềm đi vào chánh điện, bao lơn, hành lang…

Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (150.000 lượng vàng). Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho.

Tầng hầm chịu được oanh kích của bom lớn và pháo. Mặt tiền của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu.

Chùa Huê Nghiêm

Chùa Huê Nghiêm hay chùa Huê Nghiêm 2 tọa lạc tại số 299B, Lương Định Của, phường Bình Khánh, quận 2, TP.HCM, thuộc hệ phái Bắc tông. Hòa thượng viện chủ chùa Huê Nghiêm là Hòa thượng Thích Trí Quảng. Hiện nay trụ trì chùa là Thượng tọa Thích Lệ Trang.

Trên một diện tích khoảng 2 ha, Hòa thượng viện chủ Thích Trí Quảng đã xây dựng một ngôi chùa vườn, mang nét đẹp thanh nhã. Ngôi chánh điện tôn trí chư Phật, Bồ tát bằng gỗ quý: Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Di Lặc. Ở mỗi khoảng sân, góc vườn, hồ sen, ao cá… đều được Hòa thượng viện chủ đặt tên của từng vị Bồ tát, Thánh Tăng có danh hiệu trong kinh Pháp Hoa. Hàng tháng, nơi đây có hai ngày chủ nhật dành cho Phật tử Đạo tràng Pháp Hoa chuyên tu.

Đình Thông Tây Hội

Đình Thông Tây Hội, trước năm 1944 có tên đình làng Hạnh Thông Tây là một ngôi đình cổ ở Gò Vấp. Đình được xây dựng vào khoảng năm 1679, ngày nay được biết tới như là ngôi đình cổ nhất của vùng đất Gia Định xưa và của cả miền đất phương Nam còn tồn tại.

Đình Thông Tây Hội là nguồn tư liệu phong phú về cư dân vùng Gò Vấp, một vùng đất ra đời tương đối sớm đối với Sài Gòn – Gia Định. Với giá trị kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, xã hội, đình được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật, văn hóa lịch sử cấp quốc gia.

Xem thêm: Những nhà thờ có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn

Toàn bộ khu đình tọa lạc trên một khu đất rộng 5.188m2. Do bị dân lấn chiếm một phần đất để ở nên nay chỉ còn khoảng 1.500m2. Đình quay về hướng Đông. Cổng đình xây theo kiểu tam quan. Sân Đình rộng, có một số cây cao khoảng 10m. Mặt bằng kiến trúc của đình tạo thành hai trục song song với nhau: một trục dài (trục chính) gồm võ ca, chánh điện; một trục ngắn (trục phụ): nhà hội sở. Kiểu mặt bằng kiến trúc này rất phổ biến đối với công trình kiến trúc tôn giáo ở miền Nam thế kỷ thứ 18-19.

Võ ca có kích thước: ngang 14m, sâu 17,5m, cao 4m là nơi xây chầu, hát bội gồm 7 nếp nhà và 52 cột gỗ, không có tường bao xung quanh.

Chánh điện gồm: 2 nếp nhà ghép trùng nhau theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”. Mái của hai nếp nhà cạnh sát nhau. Tất cả có 48 cột, chia thành 8 dãy cột, mỗi dãy có 6 cột. Bốn cột giữa cao nhất là 4,5m, có đường kính là 30 cm (thường được gọi là “tứ tượng”) là nơi quan trọng nhất, linh thiêng nhất – nơi đặt bàn thờ thần. Các chân cột ở chánh điện được có khắc hình lăng trụ thắt ở giữa. Trên nóc chánh điện có tượng lưỡng long tranh châu bằng gốm men xanh. Quanh chánh điện có tường gạch.

Nhà hội sở: là văn phòng ban trị sự, nơi tiếp khách và chuẩn bị tế lễ, có kích thước: ngang 12m, dài 19m, cao 4,2m; có 56 cột, chân cột kê đá xanh, có 3 nếp nhà “trùng thiềm điệp ốc”; có vách ván ngăn phòng làm việc với nhà kho.

Lăng Ông Bà Chiểu

Lăng Lê Văn Duyệt, tục gọi là Lăng Ông có tên chữ là Thượng Công miếu (chữ Hán: 上公廟), là khu đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832); hiện tọa lạc tại số 1 đường Vũ Tùng, phường 1, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Do vị trí Lăng Ông nằm cạnh Chợ Bà Chiểu nên người dân quen gọi chung Lăng Ông – Bà Chiểu để chỉ khu vực này.

Lăng Ông rộng 18.501 m² trên một gò đất cao, nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Vũ Tùng.

Lăng nằm kế bên khu chợ Bà Chiểu nên mỗi khi nhắc đến tên chợ này là nghĩ ngay đến lăng Ông. Rất nhiều người nơi khác thường nhầm rằng đây là lăng thờ ông và bà tên Chiểu. Thật ra không phải như vậy, đây là lăng thờ ông bà Lê Văn Duyệt. Và do lệ kiêng cữ tên, không biết từ lúc nào, người dân đã ghép hai từ “lăng Ông” với hai từ “Bà Chiểu” để chỉ khu lăng của Tả Quân.

Theo nhà văn Sơn Nam, tên Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Ðức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Ở Thủ Đức cũng có vùng đất tên là Linh Chiểu.

Chung quanh khu lăng có bức tường bao bọc dài 500m, cao 1,2 m được trổ bốn cổng ra vào theo bốn hướng, được xây dựng vào năm 1948. Năm sau, cổng Tam quan cũng được xây. Cổng có hàng đại tự nổi bằng chữ Hán Thượng Công Miếu, được đặt ở hướng Nam, mở ra đường Vũ Tùng. Trước năm 1975, cổng này đã từng được chọn là biểu tượng của vùng Sài Gòn-Gia Định xưa.

Hội quán Hà Chương

Hội quán Hà Chương còn có tên là Hội quán Chương Châu, hay còn được gọi là chùa Ông Hược.[1] hoặc chùa Bà Hà Chương; hiện tọa lạc tại số 802 Nguyễn Trãi, phường 14, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam).

Nhìn chung, lối kiến trúc của Hội quán Hà Chương tuân thủ kiểu thức miếu vũ Phúc Kiến: tiền đường có nếp mái gian giữa cao, hai bên thấp, cong vút lên; trước có hai cửa sổ tròn, tượng trưng cho nhật nguyệt.

Đây là một công trình độc đáo kết hợp điêu khắc gỗ, đá và gạch ngói, tương tợ như Hội quán Ôn Lăng, miếu Nhị Phủ…tức là theo kiểu đền miếu cổ Trung Hoa với bộ khung chịu lực bằng gỗ, mái ngói lợp ống, chân mái được viền bằng ngói xanh. Đặc biệt nhất là cách tạo hình và trang trí mái ngói mang đậm nét phong cách của người Phúc Kiến, với những bờ nóc uốn cong có gắn các mảng tượng làm bằng vữa hồ và mảnh sành, thủy tinh đủ mọi sắc màu.

Ở đây, ngoài nhóm tượng linh thú trang trí trên đỉnh mái, như tượng hai con rồng chầu mặt trời, tượng thần Tử Vi; trên sườn mái của hội quán này còn có những nhóm tượng thể hiện hình ảnh lầu các, cung điện xưa. Tất cả, đã khiến cho mái ngói của Hội quán Hà Chương trông thật lạ mắt và sinh động. Và giống như các chùa miếu khác do người Hoa xây dựng, trong Hội quán Hà Chương, màu đỏ là màu chủ đạo.

Hội quán này đã được danh sĩ Nguyễn Liên Phong viết trong Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca (xuất bản năm 1909) như sau:

Hà Chương Hội quán ai bì
Ôn Lăng thất phủ hạng nhì, hạng ba.
Các chùa còn lắm xa hoa,
Thờ ông Phước Đức, thờ bà Thai Sanh.
Thiên hậu thánh mẫu rất linh,
Quan công thánh đế lịch xinh tượng hình…

Học giả Vương Hồng Sển cũng có lời khen ngợi hội quán:

Ở đường Nguyễn Trãi, có một chùa của người Phước Kiến, hiệu đề: “Hà Chương Hội quán”. Chùa đồ sộ và khéo nhứt thời xưa, cho nên ngày nay người cố cựu Chợ Lớn còn quen dùng danh từ “lớn bằng chùa ông Hược”, vì thời trước chỉ có chùa nầy là nguy nga nhứt.

Chùa Thiên Hậu

Chùa Bà Thiên Hậu (theo cách gọi của người Việt) còn được gọi là chùa Bà Chợ Lớn, tên chữ Hán là Thiên Hậu miếu, người Hoa gọi là Phò Miếu (tức miếu Đức Bà). Do bên cạnh chùa có Tuệ Thành Hội quán là nơi quy tụ của nhóm người Hoa Quảng Đông, nên chùa còn được gọi Tuệ Thành Hội quán.

Chùa xây theo hình ấn, là kiểu kiến trúc đặc trưng của người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết nhau tạo thành mặt bằng giống hình chữ “khẩu” hoặc chữ “quốc”. Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói hương.

Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, biển tự thường là màu đỏ, vàng tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi liên hoàn, các con vật thuộc “tứ linh”.

Chùa có gắn các tượng tròn, phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường… do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908.

Kiến trúc độc đáo này được Vương Hồng Sển khen ngợi:

…Chùa ngày nay như ta thấy, toàn xây bằng vật liệu bên Tàu đem qua, từ viên gạch, tấm ngói, đến những đồ gốm gắn trên mái nóc đều do thuyền buồm chở sang đây, đến cách thức phong tô cũng giữ y thể thức Tàu, gạch xây liền mí không tô hồ, đếm rỡ từng tấm một, lằn hồ thẳng đường thẳng lối khít rịt và ngay bon như vẽ, thiệt là rất khéo và tưởng chừng thợ kim thời khó làm sắc sảo hơn được nữa. Truy ra chùa nầy trùng tu năm 1860 (Hàm Phong năm thứ 10). Ngày nay đứng sân chùa ngắm lên các cảnh chưng trên nóc bằng đồ gốm nung bên Tàu là biết được những phong tục Trung Hoa cổ thời, thuở vua chúa còn trị vì: đả võ đài, thi đậu vinh quy, công chúa tuyển phò mã, v.v… những vật này đáng được liệt kê vào sổ cổ tích vậy.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

  1. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn […]

  2. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn […]

  3. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn […]

  4. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sài Gòn […]

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!