READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Q...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Đường bờ biển Quảng Ngãi có chiều dài khoảng 129 km với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2 và 6 cửa biển vốn giàu nguồn lực hải sản với nhiều bãi biển đẹp. Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Nam Trung Bộ được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam. Tỉnh Quảng Ngãi tái lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1989 trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.

Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm. Bên cạnh đó là hai danh thắng nổi tiếng là “núi Ấn sông Trà”. Quảng Ngãi là quê hương của Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Đăng Quế, Bạch Văn Vĩnh, Lê Trung Đình, nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi: Nguyễn Vỹ, Bích Khê,Thanh Thảo, Tế Hanh, Trà Giang, Trương Quang Lục, Thế Bảo, Nhất Sinh…

Ngoài những văn hóa nổi bật, kiến trúc tại Quảng Ngãi cũng không kém phần đặc sắc…mời các bạn cùng theo dõi những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại đây nhé!

Thành cổ Châu Sa

Thành cổ Châu Sa hay Amaravati là thủ đô của Vương quốc Amaravati, được người Chăm Pa xây dựng bằng đất vào thế kỷ thứ 9 tại xã Tịnh Châu, TP.Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Đây là loại thành Chăm bằng đất duy nhất ngày nay vẫn còn dấu tích.

Thành Châu Sa là di tích dân sự lớn nhất trong khu vực Quảng Nam- Quảng Ngãi thuộc châu Amaravati của Champa xưa. Niên đại của thành được xác định vào khoảng cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X. Cơ sở để xác định là tấm bia được tìm thấy trong khu vực thành. Bia Châu Sa có niên dại xác định là năm 903, trên bia có những thộng tinvề hai vị vua đu62 tiên của vương triều Indrapura (875-982) là Indravarman II và Jaya Simhavarman. Vì vậy thành Châu Sa ít nhất là đã tồn tại trong thời kỳ vương triều Indrapura.

Thành hình chữ nhật, gần vuông, chạy theo hướng bắc- nam; dài 580m, rộng 540m; thành có bốn cửa, mở giữa bốn phía tường thành; rất có thể đây chỉ là thành nội vì theo như khảo sát của Lê Đình Phụng (1988) thì thành còn có hai gọng kìm và vòng thành ngoài rất rộng.

Thành đắp bằng đất, hiện tại đo được thành cao 4-6m, chận thành rộng 20-25m, mặt thành rộng 5-8m. Bốn góc thành hiện giờ có bốn ụ đất, có thể là dấu tích của bốn tháp canh. Quanh thành có hào nước rộng 20-25m. Cách thành 500m là khu tháp cổ Gò Phố.

Năm 1924, kiến trúc sư người Pháp Henry Parmentier đã tìm thấy ở đây các di chỉ văn hóa và đưa về trưng bày tại Bảo tàng Điêu Khắc Chăm Pa ở Đà Nẵng. Các dấu vết cho thấy thành cổ Châu Sa đã từng là trung tâm kinh tế của châu Amaravati thuộc Vương quốc Chăm Pa trước kia.

Năm 1994, tức sau 70 năm được phát hiện, thành mới được công nhận là di tích cấp quốc gia của Việt Nam. Việc chậm công nhận di tích cấp quốc gia có thể đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ thành cổ; do trước khi được quan tâm, bờ thành đã bị người dân địa phương làm đường. Hiện nay, đây là nơi thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ.

Thiên ấn Niêm Hà

Thiên Ấn là tên một ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, về phía hạ lưu, cách thành phố Quảng Ngãi 3,5km về hướng Đông bắc, thuộc địa bàn thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh. Núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc hợp thành cặp biểu tượng sơn thủy thiêng liêng trong tâm thức người Quảng Ngãi.

Núi Thiên Ấn cao 106 mét, có dạng hình thang cân, nhìn từ phía hữu ngạn sông Trà, tựa như chiếc ấn của trời cao niêm xuống dòng sông, vì vậy người xưa gọi tên thắng cảnh này là “Thiên Ấn Niêm Hà” (quả ấn của trời đóng niêm xuống dòng sông). Con đường đi lên đỉnh men theo sườn núi từ phía Nam, xoắn ốc theo chiều kim đồng hồ, lòng đường rộng, độ dốc không lớn, có thể lên xuống núi bằng ô-tô, xe máy một cách thuận tiện. Ngoài ra, còn có con đường tắt, kè đá thành những bậc cấp, chỉ riêng cho người đi bộ.

Đỉnh núi Thiên Ấn bằng phẳng, tạo thế nhìn phóng khoáng, bao quát một vùng không gian rộng lớn với những ruộng đồng, đồi núi, làng mạc, sông nước, hợp thành một bức tranh phong cảnh hữu tình. Ẩn hiện dưới bóng cây cổ thụ, chiếm một diện tích tương đối lớn, là ngôi chùa cổ Thiên Ấn. Phía Đông Thiên Ấn tự là khu viên mộ gìn giữ pháp thân của tổ khai sơn và các vị sư tổ, sư trụ trì đã viên tịch qua các thời kỳ.

” Son núi Ấn, mài hòn son Ấn, Ấn tốt son tươi Nước sông Trà, pha nấu nước trà, trà thơm nước động”

Chùa Thiên Ấn được khởi công xây dựng vào năm 1694 và hoàn thành vào cuối năm 1695 (năm Chính Hòa thứ 15, đời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng Trong). Tổ khai sơn ngôi chùa là Thiền sư Pháp Hóa (1670-1754), tục danh Lê Diệt, hiệu Minh Hải Phật Bảo, gốc người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, thuộc dòng thiền Lâm Tế. Lúc đầu chùa chỉ là một thảo am tĩnh mịch, sau đó dần dần trùng tu, mở rộng, thu hút được nhiều Tăng Ni, Phật tử và trở nên nổi tiếng. Năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1717, đời vua Lê Dụ Tông), chúa Nguyễn Phúc Chu, một người rất sùng mộ đạo Phật, đã ban cho nhà chùa biển ngạch SẮC TỨ THIÊN ẤN TỰ. Tấm biển này sau đó bị hư hại và được Thiền sư Hoàng Phúc tái tạo vào năm 1946.

Vào những dịp lễ lớn, khách thập phương đến viếng Thiên Ấn lên đến hàng vạn người, trong đó có không ít người từ phương xa trở về. Họ có thể là tín đồ Phật giáo về đây lễ Phật và cầu nguyện, cũng có thể là người không theo đạo nhưng yêu mến cảnh chùa, muốn đến đây để chiêm ngưỡng một thắng cảnh hàng đầu của Quảng Ngãi, dành một khoảng thời gian để lòng mình tĩnh lặng, thanh tẩy tâm hồn, suy ngẫm nhiều điều về cuộc đời và lẽ đạo. Riêng đối với người dân Quảng Ngãi, chưa một lần đến Thiên Ấn cũng có thể xem là chưa hiểu quê hương bởi vì núi Ấn – sông Trà đã từ lâu trở thành biểu tượng của vùng đất và văn hiến Quảng Ngãi.

Làng Bích Họa Gành Yến

Ngôi làng bích họa “mới toanh” này tọa lạc tại Gành Yến, thôn Thanh Thủy, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, cách TP.Quảng Ngãi 32 km về hướng Đông Bắc. Hiện đây là làng tranh bích họa 3D “độc nhất vô nhị” ở Quảng Ngãi và hiếm hoi trong cả nước.Khác với những bức bích họa mới được vẽ tại đảo Bé Lý Sơn, những bức tranh ở đây là tranh vẽ 3D, với thời gian hoàn thành 3-4 ngày cho một bức, gấp đôi so với tranh bích họa bình thường.

Trước đây, nhiều người chỉ biết đến danh thắng Gành Yến, 1 bãi đá đen bên cạnh những ngọn đồi nhấp nhô, với tầng đá hình thù kì lạ vô cùng hoang sơ, nhưng hiện tại, với sự xuất hiện của làng bích họa hứa hẹn nơi này sẽ là điểm du lịch vô cùng hấp dẫn trong thời gian tới.Phương tiện thuận tiện nhất để đi đến đây là xe máy.

Các bạn ở xa như Hà Nội hay Sài Gòn có thể hạ cánh ở sân bay Chu Lai, sau đó thuê xe máy hoặc taxi đến đây để hòa mình vào không gian tươi mới, rực rỡ của ngôi làng bích họa 3D độc đáo.Sau khi hoàn thành xong làng bích họa đầu tiên của Quảng Ngãi ở Đảo Bé – Lý Sơn, thì ngay lập tức trong đất liền cũng 14 bức tranh được vẽ lên tường với đủ màu sắc vô cùng sinh động, khoác lên những bức từng cũ kỹ nơi đây 1 bộ mặt hoàn toàn mới.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Lào Cai

Những bức họa được tô vẽ tỉ mỉ khiến cho không gian cũng trở nên tươi mới, sinh động hơn.Khác với những bức tranh chủ yếu hướng tới bảo vệ môi trường biển và loài rùa biển ở Lý Sơn, nội dung các bức vẽ ở Thanh Thủy chủ yếu là phong cảnh, động thực vật, cảnh sinh hoạt với màu sắc rực rỡ, bắt mắt. Những bức tranh khiến cho ngôi nhà cũng trở nên bừng sáng hơn. Cũng những bức vẽ này nhưng vào buổi tối còn có khả năng phát sáng, tạo ra không gian lung linh, kỳ ảo khiến du khách ngỡ ngàng. Cũng nhờ làng bích họa mới nổi này mà Gành Yến cũng trở nên mắt hơn trong màu áo của những chiếc thúng nằm úp, tô vẽ lên mình vô số hình ảnh người dân chèo lưới, sao biển, cá đang bơi lội…

Không thể ngờ những chiếc thuyền thúng, vật dụng sinh nhai gắn bó với những người dân chài từ đời này qua đời khác lại trở nên sinh động và đáng yêu đến thế.Những hàng quán mới cũng được dựng lên phục vụ cho du khách.

Thành cổ Quảng Ngãi

Thành Cổ Quảng Ngãi: Còn gọi tên là Cẩm Thành (thành Gấm) nằm cách Quốc lộ 1A 200m về phía đông, nay thuộc phường Nguyễn Nghiêm – TX Quảng Ngãi (thành Quảng Ngãi trước kia nằm ở làng Phú Nhơn, huyện Bình Sơn – nay thuộc thị trấn Sơn Tịnh). Thành được khởi công xây dựng năm 1807 ở Chánh Mông, huyện Chương Nghĩa (trên địa bàn di tích hiện nay) và đến năm 1815 thì hoàn chỉnh.

Cổ thành Quảng Ngãi kiến trúc theo kiểu vô-băng (vauban) có hình bình đồ vuông, mỗi cạnh trên 500m, tổng diện tích trên 26 ha. Mặt tiền của cổ thành quay về hướng bắc, nhìn ra kinh đô Huế. Thành lấy sông Trà Khúc làm nhược thuỷ, lấy núi Thiên Ấn làm minh đường, hai bên hữu long, tả hổ là núi Ông (Quảng Phú) và núi Đá Đen (Phú Thọ), lấy ngọn Thiên Bút làm hậu chẩm. Thành nằm giữa một vùng thiên nhiên đẹp, tạo nên sự tổng hòa cảnh quan kiến trúc ngoạn mục.

Thành Quảng Ngãi được thi công xây dựng lần đầu vào năm 1749, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát ở phía Bắc cầu Trà Khúc. Khi Gia Long lên ngôi vào năm 1802, thành được dời về xã Phú Đăng, huyện Chương Nghĩa, gần huyện lỵ Tư Nghĩa ngày nay. Năm 1807, thành lại dời ra xã Chánh Mông.

Thời gian xây dựng thành là 8 năm, do các thiết kế kiến trúc sưp người Pháp thiết kế theo kiểu Vauban. Thành có bình đồ hình vuông, cổng chính hướng về phía Bắc. Ban đầu có 4 cửa, về sau cửa Nam bị lấp lại, chỉ còn 3 cửa. Đáng chú ý là các cửa thành không nằm ở trung điểm của các cạnh mà lệch một bên của “hình vuông trái khế”. Cửa Đông nối cửa Tây bởi trục lộ chính (nay là đường Lê Trung Đình). Điều cũng rất đáng chú ý là thành không hoàn toàn đúng theo hướng chính Đông, chính Tây, chính Nam, chính Bắc, mà có một độ lệch khoảng 15 độ.

Thành có chu vi khoảng 2km, tường thành cao 4m, chung quanh có hào rộng 20m, dẫn nước sông Trà vào thành. Thành được xây bằng đá ong dày 1,6m, bên trong đổ đất ngang để xe ngựa có thể di chuyển được. Trong thành có vọng lâu để quan sát. Cửa thành làm bằng gỗ lim. Trong thành có quan lại, thông ngôn, ký lục, binh lính và gia đình họ ở.

Khu vực nội thành được phân bố qua hai giai đoạn khác nhau. Năm 1885, hành cung được bố trí phía Nam thành, mặt quay về hướng Bắc. Phí trên hành cung có trưởng Đốc, phía dưới có trại lính. Cách con đường từ Tây sang Đông, phía Bắc có dinh án sát, bố chính, đốc học. Bên trái là dinh lãnh binh, thái y viện. Thời kinh 1885-1945, người Pháp thay đổi cách bố trí trong nội thành, duy chỉ có hành cung là còn giữ nguyên. Thái y viện đổi thành bệnh viện, dinh bố chính đổi thành dinh tuần vũ. Dinh lãnh binh được dời sang cạnh dinh đốc học, thay vào đó là sở lục lộ. Đi tiếp về phía Đông là bưu điện, kho lương, trường tiểu học.

Còn theo Quảng Ngãi tỉnh chí xuất bản năm 1933 thì con đường từ cửa Tây sang đông được chia nội thành làm hai khu vực. Phía Nam có hành cung ở giữa, phía dưới có toà công sứ, phía trên có trường tiểu học. Xa chút nữa là xưởng lục lộ, sau xưởng có nhà máy điện. Phía Bắc có dinh tuần vũ, bưu điện, dinh án sát. Trên đường ra cửa Bắc có kho lương, bệnh viện, nhà lao. Trong thành có nhiều giếng. Các công sở đều nằm ở trong thành, chỉ có phòng căn cước và phố ngân hàng là nằm bên ngoài.

Trước năm 1945, thành Quảng Ngãi được dùng làm trung tâm hành chính của chế độ phong kiến và của Pháp. Năm 1947, thành đã bị phá hủy hoàn toàn. Thành cổ hiện chỉ còn dấu tích nằm phía trước khách sạn Ninh Thọ, thuộc khuôn viên quảng trường tỉnh Quảng Ngãi, cạnh đường Phạm Văn Đồng ngày nay.

Điện Trường Bà

Di tích Điện Trường Bà cách TP Quảng Ngãi 52 km về phía Tây, gắn liền với quá trình tụ cư lập nghiệp của người Việt trong buổi đầu đi mở đất ở phía Nam. Năm 1993, di tích này được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, đến đầu tháng 5 này, Bộ Văn hóa thể thao & Du lịch xếp hạng là di tích cấp quốc gia.

Điện Trường Bà Trà Bồng ngoài việc thờ thánh mẫu Thiên Y A Na còn thờ 2 vị nhân thần là Bùi Tá Hán và Mai Đình Dõng, hai nhân vật lịch sử có công mở mang, ổn định, trấn yên vùng đất miền núi phía Tây Quảng Ngãi. Đây là di tích lịch sử độc đáo với sự tích hợp văn hóa giữa các dân tộc Việt, Cor, Chămpa… là nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng và là biểu tượng sinh động của truyền thống đại đoàn kết các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Theo các nhà Sử học, Điện Trường Bà mang tính cộng đồng, biểu trưng tình đoàn kết, hòa hợp giữa các dân tộc trong chiều dài lịch sử mở mang bờ cõi và phát triển của đất nước.

Gần Điện Trường Bà là điểm khởi đầu của di sản văn hóa quốc gia Trường Lũy dài 113 km (trải dài qua 32 xã với hơn 70 đồn bảo). Đây là ngã ba sông, cửa ngõ vào rừng cao, núi sâu, mở mang đất đai mang dấu ấn lịch sử tiêu biểu của vùng đất Quảng Ngãi nói riêng, vùng đất Nam Trung Bộ nói chung.

Hàng năm vào ngày rằm tháng 4, người dân khắp nơi về huyện vùng cao Trà Bồng tri ân công đức thánh mẫu và các vị thần bằng vật phẩm gạo, nếp, gà, vịt, heo, bò, trầu cau, hoa quả, bánh trái… Còn đồng bào Cor thì mang theo sản vật đặc trưng ở vùng cao nơi đây như: Trầm, quế, mật ong, lúa rẫy, thú rừng… để tế Bà. Trong lễ tế Điện Trường Bà gồm có lễ rước sắc, lễ mộc dục (tắm tượng), lễ nhập yết, lễ hiến tế (lễ ăn trâu của người Cor), lễ tế chính điện (chánh tế) và lễ rước Bà ra khai hội, thả hoa đăng cầu nguyện điều tốt lành trên sông Trà Bồng.

Nhà thờ Trương Định

Trương Định là một nhà quân sự giỏi binh thư đồ trận.Từ quê hương Tịnh Khê Sơn Tịnh đã vào Nam cùng nghĩa quân chiến đấu chống lại quân xâm lược Pháp. Ông đã chọn Gò Công làm nơi căn cứ của mình để cùng sống chết với những người dân chân lấm tay bùn.

Vì bị địch dồn quân bao vây không thể thoát ra được, Ông đã ra lệnh cho nghĩa quân chôn cất vũ khí và giả làm thường dân thoát ra ngoài, riêng Ông đã tuẫn tiết tại chỗ để bảo vệ danh dự của một dũng tướng.

Huyền thoại lưu truyền trong dân gian về người anh hùng Trương Định cùng nghĩa quân của Ông xoay quanh những sự kiện có thật, làm cho nét đẹp của người anh hùng trở nên gợi cảm và tôn vinh hơn. Nhà thờ Trương Định được xây dựng hiện nay là tình cảm của nhân dân dành cho Ông.

Sông và Cầu Trà Khúc

Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất ở tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Nó phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn với đỉnh cao 2.350 m do hợp nước của 4 con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lò (Selo), sông Rinh (Drinh), sông Tang (Ong). Chỗ ngã tư đó còn gọi là ngã tư Ly Lang. Sông từ đó chảy theo hướng đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa Đại Cổ Lũy (Chiêm lũy lịch môn). Tổng cộng chiều dài là 150 km.

Với sòng chảy dài của Sông Trà, đầu nguồn Sông trà với vẻ đẹp tự nhiên, ruộng đồng, đồi núi và dòng sông tạo nên một bức tranh hữu tình và thơ mộng. Nơi đây những bạn trẻ thơ nô đùa, tắm mát dưới dòng sông trong lành mỗi buổi chiều hè.

Bên dòng sông Trà Khúc thành phố Quảng Ngãi như nằm lặng lẽ để hòa nhịp cùng dòng chảy của sông, một thành phố yên bình khi được nhìn từ trên cao xuống với vẻ đẹp mộc mạc thành phố càng đẹp hơn.

Buổi chiều trên dòng sông Trà Khúc khi hoàng hôn buông xuống, thỉnh thoảng như có chiếc thuyền điểm tô cho khung cảnh nơi đây cuốn hút hơn nữa trong buổi hoàng hôn để thả hồn mình xuống dòng sông sau một ngày học tập và làm việc mệt mỏi.

Khi màn đêm buông xuống, Thành phố lại thêm yên tĩnh, sông Trà Khúc lặng lẽ và yên bình, trở lại cái vốn có của nó, chỉ còn xuất hiện từ những ngôi nhà ánh sáng xa xăm.

Quần thể di tích Đặng Thùy Trâm

Khu di tích Đặng Thùy Trâm nằm trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi đã lưu lại những dấu tích anh hùng của Liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm, đại diện cho lòng yêu nước, sức sống mãnh liệt của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Liệt sĩ – Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942, trong một gia đình trí thức. Tốt nghiệp trường đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường miền Nam. Sau 3 tháng hành quân, tháng 3/1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Ngày 22/6/1970 trong 1 chuyến đi công tác từ vùng núi về đồng bằng, chị đã bị địch phục kích và hy sinh lúc chưa đầy 28 tuổi.

Ngày 20/2/2006 Liệt sĩ – Bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Quần thể di tích theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm cách TP.Quảng Ngãi 45 km về hướng nam thuộc xã Phổ Hòa, Phổ Cường, huyện Đức Phổ và xã Ba Trang, huyện Ba Tơ.

Khu di tích Đặng Thùy Trâm bao gồm các hạng mục chính: Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm ở xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ; Trạm phẫu thuật tiền phương ở núi Bộng Dầu, thôn Quy Thiện, xã Phổ Khánh; Khu vực hồ Liệt Sơn, xã Phổ Hòa; Bệnh xá Đức Phổ tại đồi Gò Chày thôn Đồng Răm 1, xã Ba Khâm…

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nam Định

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm được xây dựng trên diện tích 3.900 mét vuông, gồm các khoa chức năng: nội, nhi, sản, răng – hàm – mặt, y tế cộng đồng, y tế dự phòng, sơ cấp cứu ban đầu… với quy mô 10 giường bệnh và đầy đủ trang thiết bị y tế đảm bảo việc khám, điều trị cho hơn 40.000 dân trong khu vực.

Hiện tỉ lệ sử dụng giường của bệnh xá luôn hết công suất, điều này không chỉ góp phần giảm bớt áp lực quá tải cho y tế tuyến trên mà còn giảm đáng kể chi phí cho người bệnh, nhất là bệnh nhân nghèo

Khu chứng tích Sơn Mỹ

Khu chứng tích Sơn Mỹ (hay Khu chứng tích Mỹ Lai), nằm trên quốc lộ 24B thuộc địa phận thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, Thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, là nơi tưởng nhớ vụ thảm sát Sơn Mỹ (còn được biết đến là vụ thảm sát Mỹ Lai), thực hiện bởi một lực lượng của Quân đội Hoa Kỳ vào buổi sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, trong Chiến tranh Việt Nam.

Ngày nay, du khách có thể trực tiếp nhìn thấy những bức ảnh ghi lại tội ác chiến tranh được trưng bày tại nhà chứng tích Sơn Mỹ hoặc tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh (Thành phố Hồ Chí Minh) và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (Hà Nội).

Di tích nằm trên quốc lộ 24B đi Cảng Sa Kỳ – Dung Quất, cách khu du lịch biển Mỹ Khê 3 km về phía tây, cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 13 km về phía đông bắc.

Thiên Bút Phê Vân

Thiên Bút (bút trời) hay còn gọi là Thiên Bút Phê Vân (Bút trời vẽ mây) là tên ngọn núi phía nam Thành phố Quảng Ngãi, là biểu tượng nổi tiếng tỉnh Quảng Ngãi. Ngọn núi này thường là đề tài trong hội họa, nhiếp ảnh, văn chương và âm nhạc.

Núi cao 30 m, bốn phía cân bằng, ở giữa cao vút như ngọn bút. Núi nằm cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 2 km về phía Nam. Nhìn xa xa núi Thiên Bút như cây bút vẽ mây trời vào những lúc mây chiều bao phủ núi hoặc lúc sáng sớm sương mò bao phủ núi. Trên núi có nhiều loại cây, đặc biệt là loại trâm, móc, cây trâm cho quả chín đen, cây móc dùng làm thuốc nhộm. Tương truyền ngày xưa trên đỉnh núi có một chùa cổ, nay vẫn còn lại dấu nền chùa.

Bên phía sườn nam Thiên Bút là một quả đồi thấp, tựa hình nghiên mực nên được gọi hòn Nghiên. Ngày trước quan Thượng thư trí sỹ Nguyễn Hữu Chuyên có xây lên đó một ngôi chùa, đặt tên Quy Sơn tự, ý rằng nơi đây là chốn để con người tìm về với bản thể chân nguyên, hòa đồng cùng thiên nhiên trời đất. Quy Sơn tự đã bị hư hại và mất hết dấu tích từ lâu. Ngôi chùa hiện nay, nằm dưới chân núi phía tây bắc là Thiên Bút tự, thuộc hệ phái Phật giáo Cổ Sơn môn.

Cũng về phía tây, đường Thiên lý chạy gần chân núi, nơi đây ngày xưa có một quán nhỏ bên đường, tên gọi quán Đàng. Cô gái quê nào đó đã mượn núi Bút, quán Đàng tỏ tấc lòng với người mình thương rồi để lại câu ca dao đong đầy duyên nợ:

“Ngó lên núi Bút, quán Đàng
Núi bao nhiêu đá dạ thương chàng bấy nhiêu.”

Các nhà nho ngày trước quan niệm Thiên Bút là biểu tượng trưng cho học phong, văn mạch của vùng đất Quảng Ngãi. Đền Văn Thánh (Văn miếu Quảng Ngãi), dẫu nằm tận bên bờ bắc sông Trà Khúc vẫn chọn núi Thiên Bút làm tiền án.

Thiên Bút còn là ngọn núi gắn với nhiều truyền thuyết, giai thoại. Câu chuyện cảm động Cây quế thần và người phu xe nghèo nhắc đến cây quế bí ẩn đâu đó trên đỉnh Thiên Bút. Người dân quanh vùng kể rằng nhiều đêm thanh vắng, hốt nhiên mùi hương quế thoang thoảng lan ra giữa thinh không, nhưng khi ai nấy ra công đi tìm thì chẳng thấy đâu hình cây, bóng lá. Có người phu xe nghèo khó sống dưới chân núi được thần linh ban cho chiếc lá quế vàng đem về làm thuốc, chữa căn bệnh hiểm nghèo của bà mẹ già.

Nhà thờ Giáo xứ Quảng Ngãi

Phần đất giáo xứ, một phần lớn thuộc huyện Tư Nghĩa và một phần thuộc thành phố Quãng Ngãi. Thành phố Quảng Ngãi có hai nhà thờ: nhà thờ cũ do cha Phêrô Nguyễn Thanh Quí thành lập năm 1941 toạ lạc trên đường Trần Hưng Đạo, thuộc phường Nguyễn Nghiêm, nhà thờ mới nằm trên đại lộ Hùng Vương, thuộc phường Trần Hưng Đạo. Nhà thờ mới do cha Phaolô Huỳnh Tấn Ngoan khởi công xây dựng phần cơ bản vào năm 1963, và được cha sở kế nhiệm, Giuse Nguyễn Sồ hoàn thành năm 1973.

Vào đầu thế kỷ XX, thống kê năm 1909-910 ở tỉnh Quảng Ngãi đã có các giáo xứ: Phú Hòa, Cù Và, Bàu Gốc, Châu Me, Trung Tín. Cộng đoàn các tín hữu ở thành phố Quảng Ngãi lập thành giáo họ Tư Nghĩa và cho đến năm 1937 vẫn còn thuộc giáo xứ Phú Hòa. Vào năm 1937, cha Phêrô Nguyễn Thanh Quí, cha sở Phú Hòa, đã dựng một nhà thờ bằng mái tranh vách đất tại thành phố Quảng Ngãi. Năm 1941 giáo họ Tư Nghĩa được tách khỏi giáo xứ Phú Hòa, lập thành giáo xứ Quảng Ngãi, cha Phêrô Nguyễn Thanh Quí làm cha sở tiên khởi. Cùng năm 1941, cha Quí đã xây lại nhà thờ Quảng Ngãi bằng gạch vôi. Nhà thờ nầy nay vẫn tồn tại và được cha Phêrô Đặng Son trùng tu khang trang vào năm 1995.

Dù là cha sở Quảng Ngãi, cha Quí vẫn còn ở tại Phú Hòa, vì nhà thờ ở tỉnh lỵ không có bao nhiêu tín hữu. Vào ngày Chúa Nhật, cha sang tỉnh lỵ để làm lễ cho lính Tây và gia đình của họ. Lúc bấy giờ tại thành phố Quảng Ngãi chưa có gia đình giáo dân bản xứ , cha Quí đưa hai gia đình nguyên quán ở Chợ Mới và Phú Hòa đến ở bên nhà thờ thị xã để họ trông coi nhà thờ. Khi thành lập giáo xứ Quảng Ngãi, giáo họ An Hội xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa được tách khỏi giáo xứ Phú Hòa và nhập vào giáo xứ Quảng Ngãi.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!