READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại N...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nghệ An

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam. Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu (thời bắc thuộc), Nghệ An châu (đời nhà Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam). Năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành một tỉnh- Nghệ Tĩnh. Từ năm 1991, lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh.

Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây bắc giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía tây giáp tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), phía tây nam giáp tỉnh Borikhamxay (Lào).

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng – sông Lam. Hai tỉnh này có cùng phương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam. Ngoài ra, kiến trúc đẹp tại nghệ an có những nét độc đáo đậm nét dân tộc từ ngàn xưa;

Khu di tích lịch sử kim liên

Khu di tích lịch sử Kim Liên là khu di tích tưởng niệm chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, cách thành phố Vinh khoảng 15 km theo tỉnh lộ 49. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt.

Là địa danh gắn liền với nơi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An; nơi Hồ Chí Minh đã sống những năm 1901 – 1906 ở quê nội làng Kim Liên; khu mộ bà Hoàng Thị Loan (mẹ Chủ tịch Hồ Chí Minh); núi Chung và nhiều di tích khác đã gắn liền với tuổi thơ của Hồ Chí Minh. Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là một trong những khu du lịch trọng điểm quốc gia và là một trong bốn khu di tích quan trọng bậc nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu di tích Kim Liên là một trong bốn di tích quan trọng tại Việt Nam về Chủ tịch Hồ Chí Minh,[1] lưu giữ những hiện vật, tài liệu, không gian văn hóa – lịch sử về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và những người thân trong gia đình ông. Toàn bộ khu di tích bao gồm nhà tranh nhỏ của cha mẹ Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan); ngôi nhà của ông bà ngoại của Hồ; nhà thờ chi họ Hoàng Xuân (thuộc cụm di tích Hoàng Trù); nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc; giếng Cốc; lò rèn Cố Điền; nhà cụ cử Vương Thúc Quý – thầy học khai tâm của Hồ Chí Minh; nhà thờ họ Nguyễn Sinh; nhà Nguyễn Sinh Nhâm – ông nội Hồ Chí Minh; di tích cây đa, sân vận động Làng Sen; khu trưng bày các hiện vật, tài liệu và nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (thuộc cụm di tích Làng Sen); phần mộ bà Hoàng Thị Loan ở Động Tranh trên dãy Đại Huệ và cụm di tích núi Chung. Toàn khu di tích rộng trên 205 ha, các điểm và cụm di tích cách nhau 2 – 10 km.

Được đánh giá là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, khu di tích Kim Liên được Nhà nước Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tư trong nhiều năm qua. Hằng năm, khu di tích đón tiếp hàng triệu khách tham quan trong và ngoài nước tới viếng thăm.

Quảng trường Hồ Chí Minh

Quảng trường Hồ Chí Minh và tượng đài Bác Hồ là một công trình văn hóa lớn mang tầm cỡ quốc gia, được khởi công xây dựng vào ngày 19/5/2000 và khánh thành vào ngày 18/5/2013 nhân dịp kỷ niệm lần thứ 123 ngày sinh của Người.

Tượng đài Bác cao 18m, riêng phần tượng cao 12m, nhìn về hướng Đông Bắc, thuận theo ánh sáng tự nhiên để tôn thêm vẻ đẹp hoành tráng của tượng, phía trước là núi Hồng – sông Lam, xa nữa là biển Đông, cửa ngõ nhìn ra thế giới… Với bộ quần áo Kaki, chòm râu bạc, đôi dép cao su giản dị, dáng đi khoan thai, ung dung hình ảnh Bác toát lên tình cảm rất gần gũi với mọi người. Phía trước Lễ đài là đường hành lễ dùng để diễu binh, diễu hành và duyệt binh trong các ngày lễ lớn. Tiếp theo là hạng mục sân hành lễ, giữa sân hành lễ là 99 ô thảm cỏ, với kích thước 9,8m x 9,8m mỗi ô.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Sóc Trăng

Theo một số nhà chuyên môn, đường hành lễ phía trước tượng đài và những ô thảm cỏ tượng trưng cho dòng sông Lam và 99 ngọn núi Hồng Lĩnh điệp trùng, biểu tượng của quê hương xứ Nghệ. Con số 99 cũng là một hằng số văn hóa truyền thống của Phương Đông, tượng trưng cho sự hùng vĩ, trường tồn của công trình, của Bác Hồ kính yêu, những ô cỏ này tạo màu xanh tươi mát cho Quảng trường làm giảm đi sức nóng của mùa hè xứ Nghệ.

Phía trước sân Hành lễ là sân bán nguyệt. Giữa sân Bán nguyệt là hồ Elip có đài phun nước nhạc màu, một công trình hiện đại được lắp đặt theo công nghệ ở Anh và Singapo. Đài phun n¬ước có 16 chương trình phun nghệ thuật khác nhau, đó là sự kết hợp giữa âm thanh, ánh sáng, tạo nên sự rực rỡ, vui tươi, hoành tráng cho Quảng trường vào ban đêm.

Đền ông hoàng mười

Đền ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, thờ Đạo mẫu Tứ Phú nhưng vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười. Năm 2002, đền được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích Lịch sử, Văn hoá, có hai kỳ lễ hội lớn là Rằm tháng 3 Âm lịch (lễ hội khai điểm) và ngày Lễ hội giỗ ông Hoàng Mười (10/10 Âm lịch).

Di tích toạ lạc trên vùng đắc địa “sơn thuỷ hữu tình”. Phía sau là núi Dũng Quyết làm chỗ dựa vững chắc, đền lại nằm giữa một cánh đồng lúa bát ngát, biệt lập với làng mạc nên không khí hài hoà, trong lành, tĩnh lặng. Nhìn từ trên cao sẽ thấy hình tượng đầu một con Hạc đẹp tuyệt do những con sông Mộc, sông Vĩnh tạo thành, đầu con Hạc đội Lam giang, mỏ chầu về Đồng Trụ Sơn. Đấy là nơi có đền thờ ông Hoàng Mười linh thiêng, “Mỏ Hạc Linh Từ” là tên chữ của đền, có nghĩa là ngôi đền linh thiêng toạ trên vùng đất có hình “con hạc” mà đền lại nằm ở vị trí phía “mỏ”.

Đền được thi công xây dựng năm 1634, từ thời hậu Lê trên mảnh đất bằng phẳng với diện tích 10.615m². Trước đây đền có quy mô bề thế với các công trình kiến trúc như tam quan có voi quỳ, hổ phục, cửa tả cửa hữu với đôi cột nanh sừng sững, ba toà hạ điện, trung điện và thượng điện uy nghi. Trong chiến tranh chống Mỹ phá hoại miền Bắc, đền phải tạm rời vào làng. Đến năm 1995, đền mới được khôi phục lại và vẫn giữ được hình dáng ban đầu.

Toàn bộ thiết kế kiến trúc của đền ông Hoàng Mười mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn. Hệ thống gỗ trong di tích được chạm trổ công phu, các chi tiết long, lân, quy, phụng được chạm khắc sinh động, phản ánh được tư duy sáng tạo, sự tài hoa của nghệ nhân xứ Nghệ. Ngoài ra đền ông Hoàng Mười hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý có giá trị lịch sử. Đặc biệt có 21 đạo sắc, bản thần tích những tài liệu hán tự, hệ thống tượng pháp… Hàng năm, vào ngày 10/10 âm lịch diễn ra lễ hội đền ông Hoàng Mười. Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người…

Bảo tàng xô viết nghệ tĩnh

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh đóng tại số 10 đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, được thành lập vào ngày 15 tháng 1 năm 1960; là chi nhánh của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Bảo tàng được xây dựng trên đất khu Vinh trước đây, là nơi từng giam cầm hàng ngàn chiến sĩ cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong năm 1929 – 1931.

Phía trước nhà Bảo tàng có bia dẫn tích – nơi Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ và nhân dân Nghệ An khi về thăm quê năm 1957.

Đây là nơi lưu giữ các hiện vật, hình ảnh gốc chứng minh cho phong trào từng địa phương và các bộ sưu tập như ưu tập những chiếc trống dùng trong đấu tranh, sưu tập ấn loát, sưu tập vũ khí, sưu tập các con triện, sưu tập các hiện vật nuôi giấu cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và một danh sách hệ thống 49 di tích Xô Viết Nghệ Tĩnh được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh mở từ 7 đến 17 giờ hàng ngày kể cả ngày lễ và ngày cuối tuần.

Thành cổ Vinh

Thành cổ Nghệ An thuộc lãnh thổ của ba phường là Cửa Nam, Đội Cung và Quang Trung, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới triều Gia Long và được xây bằng đất. Cho đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) thì mới được xây bằng đá.

Thành được xây theo hình lục giác có cấu trúc theo kiểu vô-băng. Lúc khởi công, Triều đình nhà Nguyễn đã huy động 1000 lính Thanh Hoá, 4000 lính Nghệ An. Đến thời Tự Đức, khi nâng cấp phải lấy 8599 phiến đá sò từ Diễn Châu và đá ong từ Nam Đàn, 4.848 cân vôi, 155 cân mật mía, với tổng kinh phí là 3.688 quan tiền.

Thành có sáu cạnh và ba cửa ra vào, chu vi dài 603 trượng (2.412m), cao 1 trượng, 1 tấc, 5 thước (4,42 m), diện tích: 420.000m2, bao xung quanh có hào rộng 7 trượng (28 m), sâu 8 thước ta (3,20 m). Ba cửa ra vào của thành gồm có cửa Tiền hướng về phía Nam, cửa Tả hướng về phía Đông, cửa Hữu hướng về phía Tây. Cửa Tiền là cửa chính cho các vua ngự giá và các vị quan trong tứ trụ, lục bộ triều đình và tổng đốc ra vào. Và muốn đi qua mỗi cửa đều phải đi qua một cây cầu. Mỗi cửa đều có cánh cổng kiên cố để đóng mở. Phía trong thành có dinh thống đốc nằm ở phía Đông, phía Nam có dinh bố chánh, án sát, lãnh binh, đốc học, trại lính và nhà ngục nằm ở phía Bắc.Sau này phía tây có nhà giám binh người Pháp. Toàn bộ được trang bị 65 khẩu thần công, 47 khẩu đặt ở các vọng gác, số còn lại tập trung ở hành cung và dinh thống đốc.

Thành cổ Nghệ An là chứng tích của nhiều sự kiện lịch sử từ thời nhà Nguyễn cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Ngày nay ,trải qua nhiều biến cố của lịch sử và sự phá hoại của chiến tranh, di tích Thành cổ hầu như không còn lại gì, chỉ còn lại 3 cổng thành và khu hồ bao quanh. Tỉnh và Thành phố đã khôi phục, trùng tu lại 2/3 cổng thành đồng thời quy hoạch khôi phục lại di tích và cải tạo thành một công viên văn hoá lớn của Thành phố gọi tên là Công viên Thành cổ Vinh vói quần thể các loại hình dịch vụ, vui chơi giải trí, du lịch văn hoá đa dạng, phong phú và trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Làng Sen

Có một ngôi làng mà những hình ảnh thân thương gần gũi đã đã in sâu vào tâm thức người Việt. Nơi ấy có những mái nhà tranh dưới những lũy tre xanh, có nhịp võng trưa hè cùng tiếng ru ầu ơ của mẹ, có câu dân ca mênh mang cùng đồng ruộng núi sông… Ngôi làng mang tên làng Sen vì luôn ngát hương sen; là quê hương của Bác Hồ kính yêu, người con ưu tú của dân tộc!

Làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An- mảnh đất miền Trung đầy nắng gió. Từ thành phố Vinh đi theo Quốc lộ 46 khoảng 15km là tới làng Sen, quê Bác.

Dẫu đã qua cả thế kỷ, vạn vật đổi thay nhưng những hình ảnh xưa cũ của làng Sen gắn liền với tuổi thơ Bác vẫn được lưu giữ đến bây giờ như một miền ký ức đẹp và là tấm gương sáng cho mọi những thế hệ.

Đó là giếng Cốc, cây đa, đền làng Sen, nhà thờ họ Nguyễn Sinh… và đặc biệt là ngôi nhà tranh của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- thân phụ Bác, nơi gắn bó với tuổi thơ của Bác Hồ, cũng là khởi nguồn cho một tinh thần yêu nước và ý chí lớn lao của người anh hùng dân tộc sau này.

Làng Hoàng Trù

Làng Hoàng Trù hay còn gọi là làng Chùa thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Đây là quê hương của thân mẫu Bác Hồ – cụ bà Hoàng Thị Loan, cũng chính là nơi cụ Nguyễn Sinh Sắc được ông bà ngoại của Bác nhận nuôi dưỡng, giáo dục thành tài. Cũng chính tại nơi này, cha mẹ bác nên duyên vợ chồng và sinh ra ba người con ưu tú, trong đó có một người con kiệt xuất nhất của dân tộc, đó chính là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Trong khu nhà tại làng Hoàng Trù, hàng râm bụt vẫn còn xanh mướt, được cắt tỉa gọn gàng như dẫn lối du khách vào tổ ấm đơn sơ của Bác lúc còn bé, là nơi Bác sống trong vòng tay yêu thương của ông bà ngoại, trong từng lời ru dịu dàng của mẹ, là mái nhà ấm áp yêu thương.

Trên mảnh đất tại làng có hai ngôi nhà chính. Ngôi nhà lớn 5 gian là nhà của ông bà ngoại Bác, đó là nơi cha mẹ của Bác sinh sống cho đến khi hai người thành vợ chồng rồi ra ở riêng.

Ngôi nhà thứ 2, cách nhà ông bà ngoại Bác không xa ở phía tây chính là nhà của cha mẹ Bác. Ngôi nhà này do cụ Hoàng Đường cắt đất cho con rể cũng là học trò của mình, chính là cụ Nguyễn Sinh Sắc. Đó cũng là lý do tại sao Bác được sinh ra tại quê ngoại chứ không phải quê nội.

Cũng tại nơi đây vào một buổi sáng mùa hè ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời trong vòng tay yêu thương của ông bà ngoại. Năm năm đầu tiên của tuổi ấu thơ, Bác đã sống trong sự yêu thương đùm bọc của ông bà ngoại và cha mẹ, là nơi ươm mầm cho nhân cách tốt đẹp và lý tưởng cao quý trong Người.

Chùa Đại Tuệ

Chùa Đại Tuệ tọa lạc trên động Thăng Thiên thuộc dãy núi Đại Huệ, xã Nam Anh, huyên Nam Đàn, Nghệ An, ở độ cao 450m so với mực nước biển. Chùa nằm trên khuôn viên khoảng 6000m2 trong một không gian tĩnh lặng, cảnh vật thơ mộng, hữu tình. Đứng trên đỉnh Thăng Thiên ta nhìn thấy dòng Lam giang uốn lượn, phóng tầm mắt say ngắm toàn cảnh Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Hưng Nguyên, Vinh, Nghi Lộc và Hòn Ngư, Hòn Mắt, Hòn Mê ở biển Đông. Đứng ở sân chùa ta nhìn thấy vùng đất rộng lớn từ Đức Thọ, Hồng Linh, Nghi Xuân và ta sẽ được nhìn rõ hơn dãy Hồng Lĩnh, dãy Thiên Nhẫn.

Chùa được thiết kế dựa trên tư tưởng Tam thân Phật, với ý nghĩa Chùa Hạ đại diện cho Ứng thân Phật, chùa Trung đại diện cho Báo thân Phật và Chùa Thượng đại diện cho Pháp thân Phật.
Sau 4 năm xây dựng, chùa Thượng đã hoàn thành với bảo tháp Đại Tuệ cao chín tầng với chiều cao 32m thờ thất Phật thế tôn và Phật Mẫu Đại Tuệ, Phật Di Lặc, Đại hùng Bảo Điện 2 tầng với diện tích 1200m2, nhà Tổ đường diện tích 300m2, nhà thờ Ngũ đế diện tích 300m2, nhà kỷ niệm đường 250m2, Hồ Tiên (ao sen) diện tích 500m2 cùng với khu Tăng xá…

Điều đặc biệt là toàn bộ hệ thống tượng pháp trên đại tháp chùa Thượng được thiết kế toàn bằng ngọc quý; tượng pháp trong Đại điện cũng như Tổ đường và nhà thờ Ngũ đế được làm từ gỗ dâu nguyên khối.

Chùa Đại Tuệ được Hội kỷ lục gia Việt Nam công nhận bốn kỷ lục:

Ngôi chùa trên núi có hồ nhân tạo lớn nhất;
Ngôi chùa có hệ thống tượng hồng ngọc nhiều nhất;
Ngôi chùa có hệ thống tượng bằng gỗ dâu nguyên khối nhiều nhất;
Ngôi chùa có hệ thống câu đối bằng thư pháp thuần Việt nhiều nhất Việt Nam.

Chùa Đại Tuệ và núi Đại Huệ có thể xem như một trong những danh thắng nổi tiếng của xứ Nghệ xưa nay. Đây là một công trình tín ngưỡng tôn giáo, nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh, hướng thiện nổi tiếng của nhân dân trong vùng.

Đền Cờn

Đền Cờn là một ngôi đền nằm trên gò Diệc, hướng mặt ra sông Hoàng Mai, tại phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Tại phường Quỳnh Phương còn có đền Ông chín Cờn.

Phường Quỳnh Phương ngày xưa lúc mới xây đền Cờn được gọi là xã Hương Cần. Cửa Cờn ngày xưa gọi là cửa Đại Càn hay Đại Cần.

Đền Cờn thờ Tứ vị thánh nương là Dương Thái Hậu, Hoàng hậu và hai Công chúa nhà Nam Tống, Trung Quốc. Nghe tin ở nhà vương triều thất thủ, bốn bà lần lượt nhảy xuống biển tự vẫn. Các bà thường hiển linh về giúp nhân dân trong vùng. Sau các bà được vua Trần An Tông phong làm Đại kiền quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương.

Vua Trần Thái Tông, vua Lê Thánh Tông, vua Quang Trung khi đi đánh trận đều qua đền lập đàn tế lễ, cầu xin Tứ vị thánh nương phù hộ cho quân Việt Nam thắng trận.

Đền Quả Sơn

Đền Quả Sơn là nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang và các vị thần. Uy Minh Vương Lý Nhật Quang đã được các nhà sử học đề cao, được xếp là một trong 9 vị danh nhân của đất nước Đại Việt.

Tác phẩm “Việt Điện u linh” của Lý Thế Xuyên nói về Lý Nhật Quang với một ngôn từ rất trang trọng “một đại phúc thần cải châu, trung trực, liêm khiết” và đặc biệt về xếp thứ tự, theo quan niệm của Lý Thế Xuyên, những vị thần nào công đức lớn hơn được xếp trên sau các vị vua và các đại thần chứ không xếp theo thời gian, thì Uy Minh Vương Lý Nhật Quang được viết đầu tiên trên cả Lý Thường Kiệt (Lý Thường Kiệt là bậc cháu của Lý Nhật Quang).

Đền được xây dựng từ đầu thế kỷ XI. Sau đó được trùng tu và nâng cấp nhiều lần. Đến thời hậu Lê thì diện mạo của đền có quy mô lớn gồm ba toà chính điện (thượng, trung, hạ điện), tả vu, hữu vu, lầu ca vũ, nhà hoả, nhà canh, tam quan. Trong đền có di tượng Lý Nhật Quang làm bằng gỗ quý, sơn son thiếp vàng, mặc áo bào bằng lụa vàng, có nhiều đồ tế khí chạm khắc tinh vi, đạt trình độ điêu khắc cao, do vua chúa nhiều triều đại ban tặng hoặc nhân dân tiến cúng. Đền Quả Sơn được xếp là một trong bốn đền lớn nhất xứ Nghệ: “Đền Cờn, đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng”.

Đền Cuông

Ngôi đền được gọi là Đền Cuông nhưng ngụ ý nói Đền Công, vì Công theo tiếng Nghệ An nghĩa là Cuông. Tương truyền, khu vực núi Mộ Dạ xưa có nhiều chim công sinh sống, thế Núi Mộ Dạ trông xa giống hình một con chim công (hoặc con hạc) khổng lồ đang múa, đầu chim chính là nơi Đền Cuông tọa lạc.

Cho đến nay, vẫn chưa có tài liệu lịch sử nào xác định chính xác thời điểm khởi dựng Đền Cuông. Tuy nhiên, dưới thời nhà Nguyễn, Đền đã được trùng tu nhiều lần, đặc biệt vào năm Giáp Tý (1864), vua Tự Đức ban sắc chỉ xây dựng lại Đền với quy mô như ngày nay.
Đền Cuông là một công trình kiến trúc đẹp, vững chắc, phù hợp với điều kiện thiên nhiên ở miền Trung, xung quanh có trồng nhiều cây xanh đan xen. Đền có kiến trúc theo kiểu chữ Tam, bao gồm tam quan, ba tòa Thượng, Trung và Hạ điện.

Tam quan đồ sộ, có 3 cửa vào: cửa giữa có ba tầng, hai cửa bên có hai tầng, các cửa này đều được thiết kế theo kiểu vòm cuốn.

Tòa Thượng điện – nơi đặt ban thờ Thục An Dương Vương và tòa Hạ điện đều có kiến trúc kiểu chồng diêm 4 mái, đầu đao cong vút. Riêng tòa Trung điện – nơi đặt ban thờ Cao Lỗ, tướng giúp vua Thục chế tác nỏ thần, được kiến trúc theo kiểu chồng diêm 8 mái. Các công trình đều đồ sộ, cột to, tường dày vững chắc nhưng không thô vì các chi tiết, hoa văn được đắp, chạm tinh tế, toát lên vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát.

Đền Cuông còn có nhiều di vật quý: trống, chiêng, tượng thờ, đồ tế khí… Nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu bằng chữ Hán trên các bức hoành phi, cột, trụ biểu nhắc nhở con cháu, muôn dân luôn nhớ ân đức vua Thục An Dương Vương.

Đền Đức Hoàng

Đền Đức Hoàng thờ vua Lê Trang Tông, là một công trình có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, nằm ở xã Yên Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Vào cuối thế kỷ thứ 16, nhà hậu Lê suy vong. Theo truyền thuyết bà Bùi Thị Ngọc Thụy vợ vua Quang Thiệu lúc đó đang có mang đã chạy về quê nhà ở làng Diêm Tràng,phủ Anh Sơn để ẩn náu. Tại đây bà sinh ra một người con khôi ngô tuấn tú,tướng mạo khác thường đặt tên là Ninh. Lớn lên cậu bé Ninh biết đi ở nuôi thân,nuôi mẹ,biết bênh vực những trẻ em bị bắt nạt và khi khôn lớn Ninh biết khai khẩn đất đai.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Quảng Ninh

Bề tôi cũ của nhà Lê là An Thanh Hàn Nguyễn Kim khởi binh ở Sầm nưa muốn tìm con cháu nhà lê để suy tôn làm minh chủ nên sai người tìm Lê Ninh ở Nghệ An. Khi tìm được Lê Ninh bề tôi rước về lập ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Nguyên hòa – Lê Trang Tôn đứng chủ trung hưng,khôi phục nhà Lê lúc đó 19 tuổi. Khi lên ngôi vua Lê Tôn đã biết tôn trọng người tài, nghe lời phải, biết vỗ về tướng sĩ, thưởng công xứng đáng nên động viên được quân sĩ và nhân dân.

Kiến trúc đền gồm có:

– Tam quan.

– Hạ điện.

– Thượng điện: gồm 3 gian, gian giữa đặt bài vị của Trang tông dụ hoàng đế, hai gian bên cạnh đặt các kiệu rồng.

Chùa Cần Linh 

Chùa Cần Linh hay còn gọi là chùa Sư nữ là ngôi chùa có quy mô lớn và đẹp nhất tỉnh Nghệ An. Chùa Cần Linh là trụ sở của Giáo hội phật giáo Việt Nam tại Nghệ An, được công nhận về mặt pháp lý và là điểm đến của nhiều người khi hành hương về với cõi Phật. Chùa được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Việt Nam chứng nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Trước đây, đã từng có hai vị vua đến thăm chùa Cần Linh. Đó là vua Tự Đức và vua Bảo Đại của vương triều nhà Nguyễn.

Trước kia, Chùa được xây dựng trên một khoảng đất cao ráo, thoáng đãng, phía đông và phía nam chùa có sông Cồn Mộc chảy qua, trong một khuôn viên rộng, đẹp, là nơi thờ Phật.

Trong chùa có gần 100 pho tượng, trong đó bức tượng Phật Thích Ca làm bằng gỗ mít, sơn son thiếp vàng đặt ở trung tâm thượng điện có giá trị nhất cả về nghệ thuật điêu khắc và niên đại ra đời. Đặc biệt bức tượng đã thể hiện được lòng từ bi, nhân ái của Đức Phật.

Nhà thờ chính tòa Xã Đoài

Nhà thờ chính tòa Xã Đoài (tên chính thức: Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời) là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Vinh, tọa lạc tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nhà thờ này được xây dựng từ năm 1846, cung hiến lần đầu năm 1979 và cung hiến trọng thể vào năm 2014.

Năm 1924 được Tòa thánh đổi tên thành địa phận Vinh theo địa danh nơi đặt tòa giám mục và ngày 24/11/1960 tòa thánh được thiết lập hàng giáo phẩm Việt nam, đồng thời nâng địa phận Vinh thành Giáo phận Chánh tòa.

Đây là một trong những nhà thờ lớn và cổ xưa của giáo phận Vinh.

Nhà thờ đá và đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức

Nhà thờ Bảo Nham được khởi công xây dựng vào năm 1888 tại xã Bảo Thành, huyện Yên Thành, nằm sát quốc lộ 7A, cách thành phố Vinh khoảng 50km về phía bắc. Năm 1904, nhà thờ Bảo Nham được chính thức hoàn thành.

Xem thêm: Trung tâm hành hương Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – La Mã Bến Tre

Nhà thờ được kiến trúc theo kiểu Gô-tich, lấy mẫu từ nhà thờ Luôcxơ (Pháp) được kiến trúc và xây dựng đồ sộ. Vật liệu chính làm nhà thờ là đá Thanh được khai thác từ đá núi Lam Sơn (Thanh Hoá). Chiều cao của nhà thờ 37m, rộng 14m, có một tháp chuông cao 28m. Trên tháp có 3 quả chuông được đúc bằng đồng, chuông nặng nhất 800kg, chuông thứ hai có trọng lượng 400kg và chuông thứ ba là 180kg.

Ngoài ra còn có 24 tháp nhỏ bằng đá, mỗi tháp cao 2,5m. Phía trước thánh đường có 2 con sư tử bằng đá được tạc rất công phu. Nhà thờ đá Bảo Nham không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh của giáo dân trong vùng mà còn là điểm tham quan du lịch của hàng trăm ngàn du khách gần xa.

Thủy điện Cửa Đạt

Thủy điện Cửa Đạt là một cụm công trình thủy điện trên sông Chu. Nhà máy chính của Thủy điện Cửa Đạt đặt tại làng Cửa Đặt xã Xuân Mỹ huyện Thường Xuân tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Hồ chứa nước Cửa Đạt nằm ở vùng sông Chu (địa phận xã Xuân Mỹ), cách đập Bái Thượng khoảng 17 km về phía thượng lưu. Hồ có dung tích gần 1,5 tỷ m3, có nhiệm vụ cắt giảm lũ cho vùng hạ du, đảm bảo cung cấp đủ nước tưới tiêu cho trên 86 ngàn ha đất nông nghiệp, cũng như nhu cầu nước cho công nghiệp và sinh hoạt. Ngoài ra hồ chứa này còn có nhiệm vụ giúp đẩy mặn cho vùng hạ lưu sông Chu và kết hợp với Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt với 2 tổ máy phát điện thương mại có tổng công suất 97 MW, bổ sung nguồn cung cho lưới điện quốc gia trung bình khoảng 430 triệu KWh mỗi năm.

Tổng mức đầu tư công trình lên tới 1.600 tỷ đồng (tính theo thời giá vào năm 2010). Công trình được khởi công ngày 2 tháng 2 năm 2004. Lễ chặn dòng diễn ra ngày 2 tháng 12 năm 2006 do Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã chính thức phát lệnh chặn dòng sông Chu. Công trình được khánh thành vào ngày 27 tháng 11 năm 2010.

Phán Quan tổng hợp

Chia sẻ bài viết Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestShare on VKTweet about this on TwitterEmail this to someoneShare on YummlyShare on TumblrShare on LinkedInPrint this page

Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

  1. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nghệ An […]

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!