READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại N...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nga

Nga là nhà nước cộng hòa liên bang, gồm 83 thực thể liên bang. Nước Nga giáp biên giới với những quốc gia sau (từ tây bắc đến đông nam): Na Uy, Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan (cả hai đều qua tỉnh Kaliningrad), Belarus, Ukraina, Gruzia, Azerbaijan, Kazakhstan, Trung Quốc, Mông Cổ, và Bắc Triều Tiên.

Nga đã thiết lập quyền lực và ảnh hưởng khắp thế giới từ thời Đế chế Nga và trở thành nhà nước hợp thành lớn nhất và lãnh đạo bên trong Liên bang Xô viết, nhà nước xã hội chủ nghĩa hợp hiến đầu tiên và được công nhận là một siêu cường, đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của Đồng Minh trong Thế chiến II. Liên bang Nga được thành lập sau sự giải tán Liên Xô năm 1991, nhưng nó được công nhận là sự kế tiếp pháp lý của nhà nước Xô viết.

Đêm trắng nước nga xinh đẹp

Có hơn 160 nhóm dân tộc khác nhau cùng với người dân bản địa ở Nga tạo nên sự đa dạng văn hóa của quốc gia này. Bên cạnh nền văn hóa Slav Chính thống của Người Nga, còn có văn hóa Hồi giáo của người Tatar và Bashkir, nền văn hóa mang đậm ảnh hưởng Phật giáo của các bộ tộc du mục Buryats và Kalmyks, những người Shaman giáo ở cực Bắc và Siberia, hay nền văn hóa của người Finno-Ugric vùng Tây Bắc của Nga và vùng sông Volga.

Đôi nét kiến trúc Nga

Kiến trúc Nga thời trung cổ ảnh hưởng chủ yếu bởi kiến trúc Byzantine. Aristotle Fioravanti và kiến trúc sư người Ý khác đã mang xu hướng kiến trúc Phục Hưng vào Nga kể từ cuối thế kỷ 15. Những thiết kế khác của các kiến trúc sư Ý trong thời kì này như cung điện Facets ở Moscow hoặc việc tu sửa và xây dựng lại Điện Kremlin vào những năm 1485 – 1492 đã đem lại một sự pha trộn kiến trúc gây ấn tượng rất mạnh. Công trình xây dựng Nhà thờ thánh Basil năm 1555, cùng nhiều nhà thờ khác với kiểu kiến trúc nhiều mái vòm được tiếp tục thực hiện trong kế hoạch xây dựng của nước Nga ở thế kỷ thứ 16. Trong thế kỷ 17, “phong cách bốc lửa” của trang trí phát triển mạnh ở Moscow và Yaroslavl, dần dần mở đường cho phong cách baroque Naryshkin của những năm 1690. Sau những cải cách của Peter Đại đế, phong cách kiến trúc ở Nga dần chịu ảnh hương mạnh mẽ của Tây Âu.

Triều đại của Catherine Đại đế và cháu trai Alexander vào thế kỷ 18 đã chứng kiến sự hưng thịnh của kiến trúc Tân cổ điển, đáng chú ý nhất ở thủ đô Saint Petersburg với đỉnh cao là công trình Cung điện mùa đông. Vào Thế kỷ thứ 19, lối thiết kế mang phong cách Hy Lạp phục hưng được phát triển và phong cách thiết kế kinh điển của Nga cũng được hồi sinh vào giữa thế kỷ này.

Hầu hết các công trình kiến trúc từ năm 1850 – 1917 không có nét gì nổi bật, thường là thực hiện kém chất lượng và mang sự hỗn độn của các phong cách thiết kế. Vào thế kỷ 20, những kiến trúc sư trẻ đã theo phong trào thiết kế có xu hướng tạo dựng và phong cách thiết kế kiến trúc hiện đại mới.

Điện Kremlin

Kremlin Moskva là một “Kremlin” (dạng thành quách ở Nga) được biết đến nhiều nhất ở Nga. Nó là trung tâm địa lý và lịch sử của Moskva, nằm trên bờ trái sông Moskva, trên đồi Borovitskii, là một trong những phần cổ nhất của thành phố, trong thời kỳ hiện nay là nơi làm việc của các cơ quan tối cao của chính quyền Nga và là một trong những kiến trúc tại Nga được nhiều người biết đến. Là một tổ hợp pháo đài lịch sử nhìn ra Quảng trường Đỏ tại Moskva, nó bao gồm các cung điện Kremli, các nhà thờ Kremli, và phần tường thành Kremli với các tháp Kremli.

Dân cư đầu tiên trên khu vực Kremli có thể có từ thời kỳ đồ đồng (khoảng thiên niên kỷ 2 TCN). Tại khu vực nhà thờ Arkhangelskii người ta đã tìm thấy các di tích về dân cư có từ thời kỳ đồ sắt sớm (nửa sau của thiên niên kỷ 1 TCN).

Ban đầu Kremli có vai trò như một sự bảo vệ cho khu dân cư, xuất hiện trên đồi Borovitskii, mũi đất nơi con sông Neglinnaya đổ vào sông Moskva. Những ghi chép đầu tiên nhắc tới Moskva có vào năm 1147. Thành phố Moskva đã được Đại công tước Yuri Dolgoruky mở rộng đáng kể trong thế kỷ 12. Từ năm 1264 nó là nơi ở của các công tước Moskva.

 

Năm 1156 trên khu vực Kremli ngày nay người ta đã xây dựng những công trình quân sự đầu tiên với chiều dài tổng cộng khoảng 700 mét. Pháo đài được đặt tên là Kremli vào năm 1331. Trong thời gian 1366 – 1368, thời kỳ trị vì của Dmitry Donskoy, thành lũy bằng đá trắng đã được xây dựng.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Trung Quốc

Trong thế kỷ 14 lãnh thổ Kremli được mở rộng, với các tường thành bằng gỗ sồi, và sau đó vào năm 1367 được thay thế bằng các bức tường và tháp xây dựng từ đá trắng. Cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14 người ta đã xây dựng những nhà thờ bằng đá đầu tiên.

Cung điện mùa hè Peterhof

Cung điện được xây dựng trong vòng 150 năm mới hoàn thành, bắt đầu khởi công từ năm 1714. Đầu thế kỷ 18, đại đế Peter của Nga sau khi viếng thăm lâu đài Versailles, Pháp đã quyết tâm xây dựng một cung điện trên nền tảng kiến trúc La Mã cổ xưa, do vậy, dựa trên ý tưởng của Pie Đại Đế và kiến trúc sư nổi tiếng Bartolomeo Ras-trelli Cung diện mùa hè đã ra đời.

Khuôn viên xây dựng Cung điện trên diện tích lên tới 1.000ha, trong tổng thể Cung điện bao gồm: 7 công viên và 20 lâu đài, 140 đài phun nước – đây chính là điểm đặc biệt mệnh danh Cung điện là thủ đô của các Đài phun nước. Kết hợp với những dinh thự nguy nga, vườn thượng uyển rộng lớn, tô điểm thêm vẻ đẹp cho Cung điện.

Toàn bộ các đài phun nước tại mặt trước Cung điện được đưa vào hoạt động vào tầm cuối tháng 4 hàng năm, và hoạt động tới hết mùa hè, đặc biệt hơn nữa, các đài phun nước ở đây hoạt động hoàn toàn không cần sử dụng tới máy bơm, nước từ các thác phun được lấy từ các con suối cách cung điện 20km ở Ropsha. Nếu du khách tới đây vào 11h trưa mỗi ngày, sẽ được nghe giai điệu Hymn to the Great city của Reinhold Glieres từ 140 đài phun nước đồng loạt khởi xướng.

Kết hợp với đài phun nước để tạo nên sự nổi bật, lộng lẫy cho Cung điện mùa hè đó là những hình nhân được mạ vàng sáng bóng, mô phỏng lại những vị thần Hy Lạp. Tạo nên tổng thể Cung điện lấp lánh dưới ánh nắng, nhưng vẫn có không khí mát dịu của hơi nước, đây thực sự là điểm du lịch nước Nga lý tưởng khiến du khách thích thú khi tới nơi đây.

Bên trong Cung điện mùa hè kiến trúc cũng rất xa hoa, lộng lẫy. Được sử dụng gam trắng, vàng chủ đạo để tạo nên sự sang trọng nơi đây. Kết hợp màu đỏ của các chi tiết nội thất, tổng thể không gian thể hiện rõ nhất đặc trứng của kiến trúc hoàng gia. Với kiến trúc độc đáo nơi đây hàng năm thu hút rất nhiều lượt khách du lịch, chiêm ngưỡng vẻ đẹp, đồ sộ, du khách cũng sẽ được đắm mình vào thiên nhiên, tìm được cảm giác thư giãn thực sự cho kỳ nghỉ của mình.

Cung điện mùa đông

Cung điện Mùa Đông ở St Petersburg là một trong những công trình mang tính chất bước ngoặt trong lịch sử. Địa điểm của những biến cố đánh dấu từng thời kỳ lịch sử từ thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 20, và hiện nay là Bảo tàng di sản quốc gia Hermitage, tuyệt nhiên không hề làm giảm tầm quan trọng của cung điện. Các cung điện Mùa Đông đầu tiên được xây dựng trong triều đại Peter Đại đế: Cung điện thứ nhất do kiến trúc sư Georg Mattarnovi trong năm 1711, thứ 2 trong năm 1716-1719. Trong thời gian Nữ hoàng Anna Loannovna trị vì, năm 1732 khởi công cung điện Mùa Đông với quy mô lớn hơn, do Bartolomeo Francesco Rastrelli thiết kế, nhưng cung điện này cuối cùng cũng không thích hợp với ý định của hoàng gia.

Thi công tiến hành trong suốt năm, bất chấp nhiều mùa đông khắc nghiệt và Nữ hoàng xem cung điện như vấn đề uy tín quốc gia trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756 – 1763), vẫn tiếp tục ra lệnh phải hoàn tất và yêu cầu phải bổ sung thêm.

Bất kể khoản tiền khổng lồ dành cho Cung điện Mùa Đông, chi phí cứ liên tục phát sinh, thi công thường xuyên đình hoãn do thiếu vật liệu và tài chính vào thời điểm các tài nguyên của nước Nga bị căng thẳng đến giới hạn tuyệt đối vì tham gia cuộc Chiến tranh Bảy Năm. Sau cùng, chi phí dự án khoảng 2.500.000 rúp, lấy từ thuế rượu, thuế muối đánh vào dân chúng chồng chất bao khoản thuế. Elizaveta không sống để chứng kiến nhiệm vụ trọng đại nhất của bà hoàn thành – bà mất ngày 25/12/1761. Những căn phòng sang trọng và căn hộ dành cho Nga hoàng vào năm sau sẵn sàng phục vụ Nga hoàng Pyotr III cùng Hoàng hậu Ekaterina.

Nhà thờ thánh Basil

Nhà thờ chính tòa Thánh Vasily Hiển phúc (tiếng Nga: Собор Василия Блаженного) là một nhà thờ Chính thống giáo Nga tọa lạc tại Quảng trường Đỏ, Moskva. Hiện nay nhà thờ là một viện bảo tàng và có tên gọi chính thức là Nhà thờ chính tòa sự Chuyển cầu của Đức Mẹ Rất Thánh trên Hào lũy (tiếng Nga: Собор Покрова пресвятой Богородицы, что на Рву). Nguyên gốc, công trình này bao gồm chín nhà nguyện (một ở giữa và tám ở các hướng xung quanh) với chín mái vòm, cùng với hành lang hiên và các mái nhọn, được xây dựng từ năm 1555 tới 1561 theo lệnh của Ivan Hung Đế để kỷ niệm sự chiến thắng ở Kazan và Astrakhan. Sau này, hai nhà nguyện nhỏ hơn được xây nối thêm. Nhà thờ này là công trình cao nhất ở Moskva cho tới khi Tháp chuông Ivan Đại Đế được hoàn thành năm 1600. Vào thế kỷ 16 và 17, nhà thờ được coi là tượng trưng cho Đền thờ Jerusalem với cuộc rước Chúa nhật Lễ Lá diễn ra hằng năm với sự tham dự của Thượng phụ Moskva và Sa hoàng.

Dù thường được dịch sang các ngôn ngữ khác là “nhà thờ chính tòa” (cathedralis) nhưng đây không phải là một nhà thờ chính tòa thực sự – theo nghĩa là nơi đặt tòa giám mục. Thực tế, đây là một sobor (nhà thờ công nghị, nghị đường) – tương đương với vương cung thánh đường (basilica) trong Công giáo Rôma.

Nhìn từ trên cao xuống, nhà thờ St. Basil giống như một ngôi sao 8 cánh (8 tòa tháp vây quanh một tòa tháp chính). Không phải ngẫu nhiên nhà thờ được thiết kế như vậy bởi vì hình ngôi sao 8 cánh và con số 8 mang nhiều ý nghĩa tâm linh và tôn giáo.

Con số 8 mang 2 ý nghĩa: số ngày chúa Jesus phục sinh (theo lịch của người Do Thái cổ), về vương quốc thiên đường được hứa hẹn vào thế kỷ thứ 8. Ngôi sao 8 cánh bản thân nó trong Thiên chúa giáo là ngôi sao dẫn đường cho ánh sáng đến với loài người trong khi đó trên mạng che mặt của Đức mẹ đồng trinh trong Chính thống giáo của Nga, có 3 ngôi sao 8 cánh.

Bên cạnh đó 2 hình vuông đặt chồng lên nhau thì 8 đỉnh của nó sẽ tạo ra 1 ngôi sao 8 cánh. Điều này tượng trưng cho sự vững bền, 4 góc của địa cầu, 4 tác giả kinh Phúc Âm và 4 bức tường bằng nhau của thành phố thiên đường.

Theo truyền thuyết, “Ivan khủng khiếp” đã cho chọc mù mắt kiến trúc sư Postnik Yakovlev để ông không thể tạo thêm ra những công trình có thể “so sánh” với nhà thờ thánh Basil.

Nhà thờ Chúa cứu thế Matxcova

Nhà thờ Chúa Cứu Thế ở Moscow là nhà thờ của Giáo Hội Chính Thống Nga. Công trình hiện diện bây giờ là biến thể tái tạo trong những năm 1990 của ngôi đền cùng tên được xây dựng trong thế kỷ XIX.

Ngôi đền là bia mộ tập thể những người lính quân đội Nga Hoàng đã bỏ mình trong các cuộc chiến tranh với Napoleon – trên tường nhà thờ có khắc tên của những sỹ quan hy sinh trong cuộc chiến tranh Vệ quốc năm 1812, trong các cuộc viễn chinh 1797-1806 và 1814-1815.

Ngôi đền ban đầu được xây dựng để ghi nhớ cuộc xâm lược của Napoleon do kiến trúc sư K.A. Tôn thiết kế. Thời gian xây dựng kéo dài gần 44 năm: nhà thờ được động thổ vào ngày 23/9 năm 1839 và được ban phép thánh ngày 26/5 năm 1883. Ngôi đền đã bị phá hủy ngày 5/12 năm 1931 trong thời kỳ Stalin tái kiến thiết thành phố. Nó được xây dựng lại trong những năm 1994-1997.

Nhà thờ Chúa Cứu Thế (lớn nhất ở Nga vào thời điểm khánh thành) được thiết kế cho 10 000 người. Trong sơ đồ nhà thờ trông giống như cây thánh giá có các cạnh đều nhau, rộng khoảng 85 mét. Chiều cao của nhà thờ với một mái vòm và một cây thánh giá là 103 m (cao hơn Nhà thờ Isaak ở Saint Petersburg 1,5 m). Được xây dựng theo truyền thống của phong cách Nga-Byzantine, được sự hỗ trợ rộng rãi của chính quyền khi khởi công. Toàn bộ tranh vẽ bên trong nhà thờ chiếm diện tích 22 000 m².

Sau Cách mạng tháng Mười và sau cái chết của Lenin, vị trí nổi bật của nhà thờ chính tòa lại được các nhà lãnh đạo Xô viết lựa chọn để xây dựng một tượng đài lớn mang tên Cung điện của các Xô viết vì họ chủ trương vô thần và cho rằng nhà thờ chính tòa chắc hẳn là tàn dư xa xỉ của “tầng lớp phong kiến” và “bóc lột” của chế độ cũ. Tượng đài này được dự kiến được xây dựng nhiều tầng theo kiểu hiện đại để hỗ trợ một pho tượng khổng lồ của Lenin, dựng trên đỉnh một mái vòm, với hai cánh tay giơ cao. Vào ngày 5 tháng 12 năm 1931, theo lệnh của Kaganovich, Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ đã bị phá huỷ tan tành bằng thuốc nổ đi-na-mít. Cũng trong khuôn khổ chủ nghĩa vô thần nhà nước, chủ trương bởi nhà nước Liên bang Xô Viết lúc đó, nhiều “cơ sở nhà thờ tại [các] cấp địa phương, quốc gia hay giáo phận đã bị phá hủy” trong chiến dịch chống tôn giáo 1921-1928.

Với sự kết thúc chế độ Cộng sản, Giáo hội Chính thống Nga nhận được sự cho phép để xây dựng lại Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ vào tháng 2 năm 1990.

Nhà thờ Hồi giáo Kul-Sharif

Nhà thờ Hồi giáo Kul Sharif được xây dựng thay cho nhà thờ Hồi giáo cũ của Nhà thờ Hồi giáo Kazan bị phá hủy năm 1552 là biểu tượng tuyệt vời của Kazan và Cộng hòa Tatarstan.

Nhà thờ này được đặt theo tên của Imam Kul-Sharif – người anh hùng dân tộc cũng là một nhà thần học Hồi giáo nổi tiếng trong lịch sử Hãn quốc Kazan. Ông bị giết trong thời gian Ivan Bạo Chúa chiếm đánh vùng đất này.

Nhà thờ nằm trên lãnh thổ Kremlin Kazan – tổ kiến trúc, lịch sử của Kazan, di sản thế giới được UNESCO công nhận.

Nhà thờ Hồi giáo Kul Sharif là một trong các nhà thờ Hồi giáo lớn nhất ở Châu Âu và là nhà thờ Hồi giáo chính của Kazan. Đây là nơi thờ phượng Hồi giáo lớn nhất tại Châu Âu và chứa nhiều sách cổ.

Việc xây dựng Nhà thờ Hồi giáo Kul Sharif bắt đầu từ năm 1996 và kết thúc vào năm 2005, đúng vào dịp kỷ niệm 1000 năm thành lập Kazan. Thiết kế của nhà thờ ấn tượng với hai gam màu nổi bật là xanh da trời và trắng, tạo thành điểm nhấn mới lạ, độc đáo trong quần thể các công trình kiến trúc của Kremlin. Bởi thế nhà thờ luôn thu hút khách tới du lịch Nga.

Nhà thờ Hồi giáo Kul Sharif không phải là một tòa nhà đơn lẻ. Đây là một phức hợp thực sự bao gồm 3 phần đó là một nhà thờ Hồi giáo, một tòa nhà hành chính, một đài tưởng niệm. Toàn bộ khu phức hợp này chiếm diện tích gần 19.000 m2.

Giáo đường hồi giáo này có một nét đặc biệt là định hướng nhà thờ đến thánh địa Mecca được xác định chính xác tuyệt đối thông qua vệ tinh. Vào ngày 24/06/2005 đã diễn ra buổi lễ khánh thành nhà thờ với sự tham dự của 17.000 người cùng các đại biểu tới từ 40 quốc gia trên thế giới.

Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcova

Trường đại học được thành lập theo một sắc lệnh của Nữ hoàng Nga Elizaveta ký ngày 25 tháng 1 (12 tháng 1 theo lịch cũ), năm 1755 bằng sự vận động của I. I. Shuvalov và M. V. Lomonosov. Những lớp học đầu tiên được tổ chức vào 26 tháng 4. Ngày 25 tháng 1 vẫn được kỉ niệm nhật là Ngày học sinh ở Nga.

Ban đầu nằm ở khu vực hiện nay là Bảo tàng lịch sử Nga trên Quảng trường Đỏ, trường đại học được Ekaterina Đại đế dời đến tòa nhà kiến trúc bán cổ điển hiện nay nằm bên kia đường Mokhovaya. Tòa nhà chính được xây dựng khoảng từ năm 1782 đến 1793 theo kiểu tân-Palladis theo thiết kế của Matvey Kazakov và được Domenico Giliardi xây dựng lại sau sự xâm lăng Nga của Napoléon.

Tòa nhà trung tâm cao 240 m với 36 tầng, được củng cố hai bên sườn là bốn chái (cánh), gồm các ký túc xá cho sinh viên và giảng viên. Nó chứa tổng cộng 33 kilômét đường hành lang và 5.000 phòng. Các trang thiết bị bên trong tòa nhà bao gồm một phòng hòa nhạc, một rạp hát, bảo tàng địa chất, các dịch vụ quản lý khác nhau, các thư viện, hệ thống bể bơi dưới tầng ngầm, trạm cảnh sát, bưu điện, hệ thống dịch vụ cho sinh viên như tiệm giặt, tiệm cắt tóc, các căng tin, các trụ sở ngân hàng, các quầy hàng, các quầy ăn tự phục vụ, một nơi tránh bom, v.v. Cùng với văn phòng quản lý đại học, là bốn khoa chính – Khoa Toán cơ, Khoa Địa chất, Khoa Địa lý và Khoa mỹ thuật và biểu diễn nghệ thuật – hiện nay vẫn ở bên trong tòa nhà chính.

Ngôi sao trên đỉnh tháp lớn đủ để chứa một phòng nhỏ và một sàn quan sát; nó nặng 12 tấn. Các mặt tiền của tòa nhà được trang trí bằng các loại đồng hồ, phong vũ biểu, nhiệt kế, các bức tượng, bông lúa và lưỡi liềm lớn khắc vào tường. Một ban công phía trước có những bức tượng các nam nữ sinh viên nhìn về tương lại một cách lạc quan và tự tin.

Vào lúc xây dựng tòa nhà chính, đồi Vorobjovy nằm ở ngoại vi thành phố, ngày nay vùng này ở khoảng giữa từ Kremli đến giới hạn của thành phố. Một số các tòa nhà khác và các nơi luyện tập thể dục thể thao được thêm vào khuôn viên đại học sau này, kể cả sân vận động bóng chày đặc biệt duy nhất ở Nga. Hiện nay nhiều tòa nhà mới đang được xây dựng cho các khoa về khoa học xã hội, và một khu tiện nghi lớn mới vừa được xây cho thư viện, là thư viện lớn thứ nhì nước Nga nếu tính theo số đầu sách. Trường đại học cũng có một vài tòa nhà ký túc xá ở phía tây nam Moskva, bên ngoài khuôn viên đại học.

Nhà thờ gỗ Kizhi

Kizhi Pogost là một di tích lịch sử có niên đại từ thế kỷ 17 trên đảo Kizhi, một hòn đảo trên hồ Onega thuộc Medvezhyegorsky, Cộng hòa Karelia, ở vùng Liên bang Tây bắc, Nga. Các pogost là một khu vực nằm bên trong hàng rào, trong đó bao gồm hai nhà thờ lớn bằng gỗ: Nhà thờ “Hiển dung” với 22 mái vòm và Nhà thờ “Chuyển cầu” với 9 mái vòm, cùng một tháp chuông hình bát giác. Pogost nổi tiếng nhờ vẻ đẹp cũng như tuổi thọ đáng kinh ngạc, mặc dù nó được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ. Năm 1990, Kizhi Pogost đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới và năm 1993, nó đã được liệt kê như là một di sản văn hóa của nước Nga.

Nhà thờ Chúa Hiển dung hay Biến hình là công trình đáng chú ý nhất của Kizhi Pogost. Nhà thờ “Chúa biến hình” được dự định chỉ sử dụng trong mùa hè nên không có hệ thống sưởi ấm, mặc dù mùa đông ở Nga nổi tiếng giá rét. Nhà thờ “Chúa biến hình” được lắp đặt vào ngày 6 tháng 6 năm 1714 một năm sau khi nhà thờ cũ bị thiêu rụi do sét đánh. Tên của kiến trúc sư xây dựng cho đến nay vẫn chưa biết. Nhưng truyền thuyết kể rằng, kiến trúc này được xây dựng chỉ bằng một chiếc rìu duy nhất cho toàn bộ công trình, sau khi hoàn thành, người ta đã ném nó xuống hồ với dòng chữ khắc “không có và sẽ không thể có một thứ khác như vậy”.

Nhà thờ bao gồm 22 mái vòm với chiều cao 37 mét khiến nó trở thành một trong số những thiết kế kiến trúc bằng gỗ cao nhất Bắc Nga và là nhà thờ bằng gỗ cao nhất thế giới. Chu vi của nhà thờ là 20*29 mét. Cấu trúc của nó dựa theo một nhà thờ 18 mái vòm được thi công xây dựng trên bờ nam của hồ Onega được xây dựng vào năm 1708 và bị phá hủy bởi một trận hỏa hoạn vào năm 1963. Theo truyền thống nghề mộc nước Nga trong thời gian đó, nhà thờ chỉ được xây dựng bằng gỗ và không sử dụng bất kỳ chiếc đinh nào.

Tất cả các cấu trúc đã được thực hiện bằng cách lắp ghép tra mộng với các lõi gổ theo chiều ngang, lồng khớp vào nhau ở các góc. Cấu trúc cơ bản của nó là một khung tám mặt cùng bốn sàn các mặt được gọi là “prirub”. Prirub phía đông có hình ngũ giác nơi có các bệ thờ. Hai cấu trúc nhỏ hình bát giác được đặt trên cấu trúc chính có hình dạng tương tự. Cấu trúc được bao phủ bởi 22 mái vòm có hình dạng và kích thước khác nhau trải dài từ đỉnh đến các mặt. Phòng ăn được bao phủ bởi ba mái dốc. Trong thế kỷ 19, nhà thờ được trang trí bằng các tấm gỗ, và một số bộ phận được bao bọc bằng thép. Sau đó nó đã được khôi phục như thiết kế ban đầu vào những năm 1950.

Nhà thờ nằm trên một nền đá mà không hề có một móng sâu nào được đào, trừ lối đi phía tây có nền móng được xây dựng vào năm 1870. Mái nhà được làm bằng các tấm gỗ vân sam và mái vòm được phủ bằng gỗ cây dương lá rung. Thiết kế của cấu trúc siêu đẳng này cũng cung cấp một hệ thống thông gió hiệu quả để giúp duy trì tuổi thọ cho gỗ.

Bức tường linh ảnh có 4 cấp bao gồm 102 bức linh ảnh (tranh thánh) có niên đại từ nửa sau thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Các linh ảnh được chia thành 3 thời kỳ. Hai linh ảnh lâu đời nhất là về Chúa biến hình và “Pokrov” có từ cuối thế kỷ 17 là biểu hiện của phong cách hội họa phương bắc. Các linh ảnh trung tâm là vào nửa sau thế kỷ 18 mang phong cách địa phương. Hầu hết các linh ảnh của ba tầng trên là của những năm cuối thế kỷ 18 mang từ nhiều nơi khác của nước Nga.

Vòng cung trắc đạc Struve

Vòng cung trắc đạc Struve là một chuỗi các trạm trắc đạc tam giác kéo dài từ Hammerfest ở Na Uy tới Biển Đen, chạy qua 10 quốc gia có chiều dài trên 2.820km. Chuỗi các trạm này được nhà khoa học Friedrich Georg Wihelm von Struve người Đức thành lập và sử dụng trong các năm từ 1816 tới 1855 để thiết lập kích thước và hình dạng chính xác của Trái Đất. Vào khoảng thời gian mới thành lập, chuỗi các trạm trắc đạc này chỉ chạy qua hai quốc gia là Thụy Điển – Na Uy và Đế quốc Nga. Từ đó về sau nó được nối xây dựng thêm và nối dài cho đến khi kết thúc vòng cung trắc đạc này chạy qua tất cả 10 quốc gia.

Vòng cung trắc đạc Struve có thể được hiểu là một đoạn dài thuộc một kinh tuyến, giúp xác định, thiết lập và tính chính xác về hình dạng của thế giới. Từ 500 trước Công nguyên, các học giả, các nhà khoa học đã biết rằng Trái đất không phải là một mặt phẳng nhưng không ai tưởng tượng được nó lại có hình cầu. Đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, kỹ thuật khảo sát và lý thuyết để xác định kích thước, hình dạng của Trái đất bắt đầu được học giả Eratosthenes nghiên cứu. Theo lý thuyết của Eratosthenes, sử dụng chiều và góc độ xác định bởi quan sát các vì sao từ đó tính ra kích thước của trái đất tuy nhiên cách này không cho ra con số thực sự chính xác, bên cạnh đó các thiết bị vào thời điểm đó còn thiếu khá nhiều nên không thể tính toán cụ thể.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Singapore

Cho đến mãi thế kỷ thứ 17 sau công nguyên khi khoa học kỹ thuật đã tiến bộ hơn rất nhiều, các phương pháp đo lường cũng phát triển với phương pháp đo lường mới gọi là Triangulations. Theo phương pháp này dùng một đường ngắn có thể đo lường chính xác hơn một đoạn dài và nối nhiều đoạn thành hình tam giác tạo nên những chuỗi tam giác kéo dài tới vài trăm km sẽ cho con số chính xác về một đoạn dài.

Quảng trường Đỏ

Quảng trường Đỏ hay Hồng trường là tên gọi của quảng trường nối tiếng nhất tại Moskva. Quảng trường này tách điện Kremli (nằm ở phía tây quảng trường này), thành lũy của hoàng gia trước đây và hiện là nơi sống và làm việc chính thức của tổng thống Nga ra khỏi khu vực thương mại trong lịch sử là Kitay-gorod cũng như GUM ở phía đông. Do các đường phố chính của Moskva tỏa ra từ khu vực này theo các hướng để trở thành các đường quốc lộ chính bên ngoài thành phố, nên quảng trường Đỏ thường được coi là quảng trường trung tâm của Moskva và của toàn Nga.

Năm 1991, quảng trường Đỏ đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới.

Khu vực mà hiện nay là quảng trường Đỏ thì trước đây là các công trình xây dựng bằng gỗ, nhưng đã bị phá bỏ đi theo sắc lệnh của Đại công tước Ivan III năm 1493, do các công trình này rất dễ bị cháy. Khu vực mới tạo ra (trước đó đơn giản gọi là Pozhar, tức “khu vực cháy”) dần dần chuyển thành như là nơi diễn ra các hoạt động thương mại chủ yếu của Moskva.

Tên gọi khi đó là Torgovaya nghĩa là quảng trường thương mại. Sau đó, nó được sử dụng cho nhiều lễ nghi công cộng khác nhau cũng như thỉnh thoảng làm nơi diễn ra lễ đăng quang của các Sa hoàng Nga. Quảng trường đã dần dần được xây dựng từ thời điểm đó, và nó được sử dụng cho các nghi lễ chính thức của tất cả các chính quyền Nga kể từ khi nó được xây dựng.

Tên gọi quảng trường Đỏ không có nguồn gốc từ màu sắc của gạch bao quanh nó hay từ sự liên hệ giữa màu đỏ và chủ nghĩa cộng sản. Nó bắt nguồn từ tên gọi trong tiếng Nga красная (krasnaya) có thể mang nghĩa “đỏ” hay “đẹp” (nghĩa sau là nghĩa cổ, nay không dùng). Từ này ban đầu được dùng để chỉ (với nghĩa “đẹp”) nhà thờ thánh Basil, và sau đó dần dần được chuyển để chỉ quảng trường cạnh đó. Người ta tin rằng quảng trường này có tên gọi như hiện nay (thay thế cho tên gọi Pozhar cũ) vào nửa sau thế kỷ 17 với nghĩa “đẹp”. Chỉ từ thế kỷ 19 thì từ này mới mang nghĩa đỏ cho đến ngày nay.

Nhà thờ thăng thiên Kolomenskoye

Kolomenskoye là tài sản của hoàng gia Nga trước đây, nằm cách Moskva vài dặm về phía đông nam với diện tích 390 ha, trên con đường cổ dẫn tới thị trấn Kolomna (vì thế mà có tên gọi này). Khu vực có phong cảnh đẹp này nhìn ra các bờ dốc đứng của sông Moskva đã trở thành một phần của Moskva trong thập niên 1960.

Làng Kolomenskoye lần đầu tiên được nhắc đến trong di chúc của Ivan Kalita năm 1339. Từ thời gian đó thì làng này đã phát triển như là một vùng quê ưa thích của các đại công tước Moskva. Công trình xây dựng cổ nhất còn tồn tại là nhà thờ Thăng thiên rất khác thường (1530), được xây bằng đá trắng theo lệnh của đại công tước Vasilii III Ivanovich để kỷ niệm sinh nhật của người thừa kế ngai vàng được chờ đợi từ lâu (Ivan Bạo chúa trong tương lai). Là nhà thờ đá đầu tiên có kết cấu tháp có chóp mái, tên gọi dân dã là “Cột trắng” (đôi khi người ta gọi nó như vậy) đã đánh dấu sự đoạn tuyệt rõ ràng với kiểu xây dựng Byzantin truyền thống.

Nhà thờ được xây dựng từ tầng hầm (podklet) hình chữ thập, sau đó là phần thân tháp (chetverik) hình bát giác kéo dài, sau đó là phần chóp bát giác (tent) với một vòm nhỏ ở phía trên. Các trụ bổ tường hẹp ở các mặt của phần thân bát giác, các khung cửa sổ hình mũi tên với ba lớp vòm cuốn bán tròn với phần lồi lên ở giữa (kokoshnik), sự nhịp nhàng đơn giản của các vòm cuốn cầu thang và các gian phòng mở nhấn mạnh xu hướng động của tác phẩm lớn của kiến trúc Nga này.

Người ta cho rằng toàn bộ đường nét kết cấu theo chiều đứng của nó đã vay mượn từ kiểu mái có mép bờ của các nhà thờ gỗ của miền bắc Nga. Công nhận giá trị đáng chú ý của nó đối với nhân loại, UNESCO đã quyết định đưa nhà thờ này vào danh sách di sản thế giới năm 1994.

Ngôi đền của tất cả các tôn giáo

Ngôi đền là một quần thể kiến trúc tuyệt đẹp nằm ở Staroye Arakchino thuộc thủ phủ Kazan của Cộng hòa Tatarstan, Nga. Được thiết kế liên hoàn trên một khu đất nhỏ, ngôi đền gồm nhiều mái vòm và tháp đại diện cho kiến trúc của các tôn giáo lớn trên thế giới. Tuy nhiên, những nghi lễ tôn giáo không được tổ chức ở đây mà nó chỉ là một trung tâm văn hóa và là nơi ở của chủ sở hữu – nghệ sĩ, nhà từ thiện Ildar Khanov.

Khanov tin rằng tất cả các tôn giáo đều bình đẳng và mong muốn mọi người đều có thể chung sống hòa bình dưới một mái nhà. Ngôi đền được bắt đầu xây dựng từ năm 1992 và hiện nó vẫn trong quá trình hoàn thiện. Khanov dự tính xây 16 mái vòm tương ứng với 16 tôn giáo lớn trên thế giới, tuy nhiên thật không may ông sẽ không thể trông thấy nó hoàn thành vì ông đã qua đời vào tháng 2/2013.

Sau khi tốt nghiệp từ trường nghệ thuật Kazan, Ildar Khanov nổi tiếng là một nghệ sĩ lập dị vì từng tuyên bố đã gặp Chúa Giêsu khi ông chỉ mới ba tuổi. Đó là trong những năm khó khăn của cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và khi Khanov gần như chết đói thì Chúa Giêsu đã xuất hiện và cứu sống ông.

Hơn 40 năm làm việc sáng tạo của mình, Khanov đã thực hiện 70 tác phẩm điêu khắc và những tấm trang trí hoành tráng cũng như hàng trăm bức tranh ấn tượng. Một số tác phẩm hay nhất của ông được trưng bày ở bảo tàng Nga, trên đường phố, quảng trường của nhiều thành phố ở Tatarstan.

Ngôi đền đã trở thành một điểm đến nổi tiếng ở thành phố Kazan, là niềm tự hào của nơi đây khi tạo sự hòa bình cho các nền văn hóa, tôn giáo khác nhau bao gồm cả Hồi giáo, Chính thống giáo Nga, Thiên chúa giáo và những tôn giáo khác.

Bảo tàng Ermitazh

Bảo tàng Ermitzh (hay Hermitage) nằm ngay tại trung tâm Saint Petersburg, bên bờ sông Neva, Nga. Nơi đây đã từng là cung điện hoàng gia Nga với Cung điện Mùa đông – dinh đại lễ Nga hoàng trong tòa nhà chính cùng các tòa nhà Tiểu, Cựu, Tân Hermitage và một số cung điện, tòa nhà khác.

Bảo tàng độc đáo bởi nó phản ánh lịch sử cùng những kiệt tác nghệ thuật từ những thế kỷ XVII cho đến nay của những nghệ sĩ tên tuổi trên khắp thế giới. Tính đến hiện tại, Bảo tàng đang có khoảng ba triệu tác phẩm nghệ thuật và di sản văn hóa Nga và thế giới bao gồm tranh vẽ, đồ họa, tượng điêu khắc, các sản phẩm nghệ thuật mỹ nghệ thực dụng, hiện vật phát kiến khảo cổ học và tiền cổ,…

Hermitage Museum hiện đang trưng bày tác phẩm của những bậc thầy nghệ thuật thời kỳ Phục Hưng như Leonardo da Vinci, Rafael, Giorgio, Tiziano… Nơi đây trưng bày những bộ sưu tập tranh lớn thứ 2 của Tây Ban Nha. Có những gian phòng còn dành riêng để trưng bày các tác phẩm của nghệ danh nổi tiếng. Có thể nhắc đến như danh họa người Hà Lan Rembrandt – bậc thầy vẽ chân dung nổi tiếng với bức “Danae”.

Bảo tàng Ermitazh còn cho công chúng chiêm ngưỡng bộ sưu tập tranh anh hùng 1812 với hơn 322 tấm chân dung lính Nga trong chiến tranh Vệ quốc chống lại quân đội Napoléon được vẽ lên từ bàn tay vàng của họa sĩ Anh nổi tiếng George Dawe và trợ lý của ông.

Đến với Hermitage của thành phố Saint Peterburg, bạn không chỉ được thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật mà còn có thể được thấy tận mắt chiếc đồng hồ vô cùng giá trị hơn 300 tuổi mang tên “ Chim công” mà Nữ hoàng Ekaterina II tặng cho Quận vương Potemkin – Tavrichesky. Nếu bạn muốn được chiêm ngưỡng chiếc đồng hồ này có khi phải đợi cả tiếng đồng hồ bởi luôn có cả một hàng dài khách du lịch đứng xếp hàng để một lần thấy “Chim Công” tuyệt đẹp này.

Bảo tàng Ermitazh – Saint Peterburg là một trong 5 bảo tàng khổng lồ của thế giới. Đến nay, Hermitage vẫn đang được mở rộng hơn nữa để chuẩn bị tiến tới lễ hội Kỷ niệm 250 năm thành lập, và thực thi đề án phát triển dưới tiêu đề “Bolshoi Hermitage” (Đại Hermitage) được sự phê chuẩn của Chính phủ Nga, dự trù đến năm 2022.

Nhà hát Bolshoi

Nhà hát Bolshoi là một nhà hát lịch sử tại Moskva, Nga, được thiết kế bởi kiến ​​trúc sư Joseph Bové, là tổ chức biểu diễn ballet và opera. Nhà hát là công ty mẹ của Học viện Ballet Bolshoi, một trường hàng đầu thế giới của ballet. Nhà hát được thành lập vào năm 1776 theo quyết định của Nữ hoàng Catherine Đại đế, theo đó Hoàng tử Pyotr Urusov được phép xây dựng một nhà hát tư nhân ở Moscow với có chức năng tô điểm cho thành phố cũng như phục vụ nhu cầu thường thức nghệ thuật của mọi người. Nhà hát đã trải qua 3 vụ hỏa hoạn và một vụ ném bom trong đệ nhị thế chiến. Tòa nhà hiện nay được xây dựng vào năm 1825 thay thế cho tòa nhà cũ bị hủy hoại bởi một trận hỏa hoạn năm 1805. Trong quá trình 200 năm lịch sử tồn tại, nhà hát Bolshoi là nơi đã từng gắn với tên tuổi những nghệ sĩ nổi tiếng trong giới âm nhạc cũng như múa ballet. Sau 2 cuộc chiến tranh thế giới, Bolshoi có thời điểm đã trở thành kinh đô nghệ thuật ballet không chỉ của Moscow hay Nga mà còn của toàn châu Âu giữa lúc lục địa già đang bị chiến tranh tàn phá.

Nhà hát là một công trình nổi bật của thủ đô Moskva và Nga (mặt tiền tân cổ điển biểu tượng của nó thậm chí còn mô tả vào Nga 100-đồng rúp tiền giấy). Ngày 28 tháng mười 2011, các Bolshoi đã được khai trương trở lại sau khi một thời kỳ trùng tu dài 6 năm với chi phí về bảng Anh 500 triệu (700 triệu USD). Việc cải tạo bao gồm một cải tiến hệ thống âm thanh như chất lượng ban đầu (vốn đã bị thay đổi trong thời kỳ Liên Xô), cũng như quay trở lại các đồ trang trí Hoàng gia ban đầu của nhà hát Bolshoi.

Từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 10 năm 2011 Nhà hát đã được đóng cửa để trùng tu. Nhà hát đã trải qua nhiều đổi mới trong thời gian của tồn tại của nó, nhưng lần trùng tu này mang lại thay đổi lớn nhất. Tòa nhà có kiến trúc bao gồm ba phong cách khác nhau, đã bị hư hỏng, và đổi mới nhanh chóng dường như là cần thiết. Việc cải tạo ban đầu có dự toán chi phí 15 tỷ rúp (610 triệu USD), nhưng các kỹ sư đã thấy rằng cấu trúc được có hơn 75% không ổn định và người ta ước tính rằng chi phí trùng tu phải là 25,5 tỷ rúp (850 triệu USD). Tuy nhiên, việc hoàn thành khôi phục, nó đã được công bố rằng chỉ có 21 tỷ rúp đã được chi tiêu. Nghiên cứu được tài trợ hoàn toàn bởi chính phủ liên bang.

Mặc dù nhà hát đang được trùng tu, công ty vẫn hoạt động, với các chương trình biểu diễn được tổ chức vào ngày giai đoạn mới và trên sân khấu của Đại điện Kremlin. Ngày 28 tháng 10, năm 2011, nhà hát Bolshoi đã được mở cửa trở lại với một buổi hòa nhạc với các nghệ sĩ quốc tế và các công ty ballet và opera.

Nhà thờ chính tòa Thánh Isaac

Nhà thờ chính tòa Thánh Isaac hoặc Isaakievskiy Sobor ở Sankt-Peterburg, Nga là nhà thờ chính tòa Chính thống giáo Nga (Sobor, trụ sở của giám mục giáo phận) lớn nhất trong thành phố. Tòa nhà được tạo dựng để cung hiến cho Thánh Isaac của Dalmatia, vị thánh bổn mạng của Peter Đại đế, người đã được sinh ra vào ngày lễ thánh đó.

Nhà thờ này là một sự kết hợp giữa phong cách Kiến trúc Tân Cổ điển muộn với phong cách Kiến trúc Byzantine của nhà thờ Hy Lạp, và còn là một bảo tàng viện về lịch sử và tôn giáo. Nhà thờ xây dựng trong khoảng 40 năm và có chiều dài 111 mét, rộng 97 mét và cao 101,50 mét. Đường kính của mái vòm mạ vàng chính là 26 mét. Không gian nội thất rộng 10.767 mét vuông của nhà thờ có sức chứa 14.000 người.

Đây cũng từng được cho là nhà thờ Chính Thống giáo lớn nhất (nhưng cũng có thông tin là nhà thờ chính tòa Chúa Ba Ngôi tại Tbilisi hay là Nhà thờ chính tòa Chúa Kitô Đấng Cứu Độ, Moskva mới là lớn nhất) và từng là nhà thờ lớn thứ tư trong tất cả nhà thờ chính tòa trên thế giới.

Bên ngoài có tổng cộng 112 cột đá granite, mà mỗi cột nặng tới 114 tấn. Đáng chú ý là 4 tranh điêu khắc lớn trên các đầu hồi (phía trên của các cửa đến mái nhà), được tạo ra bởi Ivan Vitali và Francois Lemaire. Phía Nam là “Các nhà thông thái đến mừng Chúa sinh ra” của Ivan Vitali, đông là “Thánh Isaac của Dalmatia báo tin ngày tàn của hoàng đế Valentinianus”. Tranh điêu khắc phía Bắc cho thấy “sự phục sinh của Chúa Kitô”, phía Tây “Thánh Isaac của Dalmatia ban phước cho Hoàng đế Theodosius I và vợ Flaccilla”. Cũng đáng chú ý là 3 cánh cửa bằng đồng điếu lớn, dẫn vào trong sảnh, được thiết kế bởi Lorenzo Ghiberti và phủ bằng những tranh phù điêu của Ivan Vitali, được vẽ theo kiểu cửa nổi tiếng của Battistero di San Giovanni tại Florence.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Campuchia

Bên trong nhà thờ có hơn 200 bức tranh phần lớn là khổ lớn, tranh khảm và mười cột lớn bằng đá malachit và hai cột bằng đá lapis lazuli. Các bức tường được trang trí bằng các loại đá cẩm thạch, đá quý, ngọc nhiều màu. Tổng cộng có 43 chất liệu khác nhau đã được sử dụng, vì thế nhà thờ còn được mệnh danh là “Bảo tàng Địa chất Nga”. Tất cả các vật liệu được sử dụng trong việc xây dựng nhà thờ cũng được dùng khi tạc tượng đầu người (được tạo ra bởi Antonio Foletti) bên trong nhà thờ.

Nhà thờ Chúa Cứu thế trên Máu đổ

Là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng nhất nước Nga, thu hút khách du lịch không chỉ bởi vẻ đẹp tôn nghiêm với phong cách kiến trúc độc đáo. Nơi đây còn là dấu mốc quan trong của lịch sử cũng như người dân nơi đây. Dưới đây chúng ta hay cùng nhau tìm hiểu về hành trình khám phá nhà thờ Chúa Cứu thế giới trên Máu đổ và rinh về những vé máy bay đầy hấp dẫn nhé.

Được xây dựng vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ thứ XX tại nơi mà Hoàng đế Alexander II bị thương trong cuộc tấn công vào năm 1881. Những viên đá và cả lan ca sắt nơi Sa Hoàng bị ngã xuống hiện nay vẫn được gìn giữ và tồn tại nguyên vẹn bên trong nhà thờ bằng cách những người dân nơi đây đã cho mở rộng nhà thờ thêm 8m. Chính vì vậy mà nhà thờ này có một vị trí khá đặc biệt trong lòng mỗi người dân nơi đây và trong toàn bộ người dân Nga.

Nhà thờ Chúa Cứu Thế trên máu đổ có kiến trúc rất độc đáo với phong cách trang trí cầu kì đặc trưng riêng mà bạn không thể tìm thấy ở bất cứ nhà thờ nào khác.

Được xây dựng theo phong cách cổ xưa Nga với 9 mái vòm cùng những bức tường được trang trí bằng các mảnh ghép tạo nên sự độc đáo nổi bật cho nhà thờ.

Nhà thờ được gắn với rất nhiều những câu chuyện lý thú về chính bản thân của nó.

Người ta cho rằng nhà thờ này có mối quan hệ mật thiết với vị Hoàng đế Alexander đệ nhị, chẳng hạn như: năm sinh cảu hoàng đế có 2 số cuối trùng khớp với độ cao của nhà thờ và chiều cao của mái vòm thứ 2 của nhà thờ lại bằng y với số tuổi của vị Hoàng đế này.

Có người nói bức tranh thánh icon được treo ở bên trong nhà thờ chính là nhân chứng chứng kiến sự kiện lịch sử đánh dấu trong bước ngoặt của đất nước Nga. Nó chính là sự kiện mà chế độ quan chủ ở Nga bị lật đổ và thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Mười Nga.

Trong thời kì Xô Viết, nhà thờ được dự kiến sẽ phục chế trong 5 năm, thế những nó đã bị kéo daifvaf duy trì tận vài thập kỉ và người ta cho rằng Liên Xô tan ra cũng là lúc giàn giáo của nhà thờ được tháo xuống và rồi điều đó cũng trở thành sự thật diễn ra vào năm 1991. Đến nay, nhà thờ này cũng còn mang trong mình rất nhiều những câu chuyện bí ẩn vẫn chưa được giải mã và các nhà khảo cỗ học vẫn đang truy lùng nó.

Tháp Ostankino

Tháp truyền hình Ostankino là một điểm đến nổi bật ở Nga. Với chiều cao 540m, nặng 32.000 tấn và phần móng nặng hơn 55.000 tấn đưa Ostankino nằm trong top những tòa nhà cao nhất thế giới.

Năm 1957, chính phủ Nga thông qua việc xây dựng tòa tháp. Nhưng đến năm 1963 tòa nhà mới được xây dựng, quá trình diễn ra trong vòng 4 năm từ 1963-1967. Thời điểm đó Ostankino được coi là tòa tháp cao nhất thế giới. Nhưng đến thời điểm hiện tại tòa tháp đứng thứ 5 thế giới sau tòa nhà trọc trời Burji Halifa ở Dubai cao 828m, tháp truyền hình phát thanh KVLY-TV ở Mỹ 629m, tháp truyền hình Quảng Châu ở Trung Quốc cao 610m, tháp truyền hình CN tower ở Canada cao 553m. Vào năm 2000, tòa nhà diễn ra hỏa hoạn, lúc đó có ý kiến nên kết hợp sửa chữa tòa tháp với việc cải tạo biến nó thành tóa tháp truyền hình cao nhất thế giới, nhưng ý kiến đó đã không được thông qua.

Bản thiết kế Ostankino được kỹ sữ Nikitin nghĩ ra chỉ sau 1 đêm. Hình mẫu nguyên bản của tòa tháp lấy từ hình ảnh bông hoa bách hợp úp ngước – với những cánh hoa dày dặn, cuống hoa cứng cáp. Theo bản thiết kế ban đầu, Ostankino sẽ có 4 trụ đỡ. Sau đó theo lời khuyên của kỹ sư Fritza Leonhardt – tác giả của tháp truyền hình bê tông đầu tiên của thế giới tại Stugart, số trụ đỡ đã tăng lên 10 trụ.

Ostankino là địa điểm thu hút khách nổi tiếng tại Nga và được coi là biểu tượng của thành phố Moscow. Khi đi du lịch Nga du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Moscow từ hai vị trí của tóa tháp: Một là khu quan sát trong nhà – ở độ cao 337m và vị trí thứ hai là khu ngoài trời – ở vị trí cao hơn một chút. Bên trong tóa tháp có nhà hàng “ Tầng mây thứ 7” nằm ở độ cao 328-334m. Nhà hàng có 3 tầng: Vàng, Bạc, Đồng. Những vị trí ngồi sát cửa sổ ở khu vực vòng tròn sẽ tự xoay quanh trục của tháp với vận tốc 1-2 vòng trong 40 phút.

Hằng năm tại tòa tháp có tổ chức cuộc thi leo cầu thang lên độ cao 337m. Kỷ lục leo nhanh nhất được ghi nhận tới thời điểm hiện tại 11 phút 55 giây.

Phán Quan tổng hợp


Đừng bao giờ ngần ngại đi xa hơn nữa, vượt qua mọi đại dương, mọi biên giới, mọi quốc gia và mọi đức tin;

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!