READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại M...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Myanmar

Myanmar (Phát âm tiếng Myanma: [mjəmà], phát âm tiếng Việt: Mi-an-ma) hay còn gọi là Miến Điện, Diến Điện, tên chính thức là Cộng hòa Liên bang Myanmar, là một quốc gia có chủ quyền tại Đông Nam Á có biên giới với Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Một phần ba tổng chu vi của Myanmar là đường bờ biền giáp với vịnh Bengal và biển Andaman. Theo số liệu điều tra nhân khẩu năm 2014, Myanmar có 51 triệu cư dân. Myanmar có diện tích 676.578 km². Thành phố thủ đô là Naypyidaw còn thành phố lớn nhất là Yangon.

“Miến Điện” hay “Diến Điện” (Hán văn: 緬甸) là tên nước này được người Việt Nam đọc theo cách gọi của người Trung Quốc. “Miến” có nghĩa là xa tắp, xa vời, xa tít tắp. “Điện” là chỉ vùng đất nằm bên ngoài “giao”. Theo cách gọi của người Trung Quốc thì tường trong của thành gọi là “thành”, tường ngoài gọi là “quách”. Vùng ngoại vi của quách gọi là “giao”. Vùng đất bên ngoài giao gọi là “điện”, cách thành khoảng từ một trăm dặm trở lên. “Miến Điện” ý là vùng ngoại thành xa xôi.

Dù có nhiều nền văn hóa bản xứ tồn tại ở Myanmar, nền văn hóa chiếm vị trí trọng yếu là Phật giáo và Bamar. Văn hóa Bamar từng bị ảnh hưởng từ các nền văn hóa các nước xung quanh. Nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, nhảy múa và sân khấu. Nghệ thuật, đặc biệt là văn học, trong lịch sử từng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Phật giáo Nam truyền Miến Điện. Nếu coi thiên sử thi quốc gia của Myanmar, Yama Zatdaw, là một sự phóng tác theo Ramayana, thì nó đã mang nhiều nét ảnh hưởng lớn từ các văn bản Thái, Mon và Ấn Độ của vở kịch này. Phật giáo đi sâu vào văn hóa và là cốt lũy của văn hóa Myanmar. Ẩm thực Myanmar bị ảnh hưởng nhiều từ ẩm thực Ấn Độ, Trung Quốc, Thái, và các nền văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số khác. Món chủ yếu trong ẩm thực Myanmar là gạo. Mỳ và bánh mì cũng là các món thường thấy. Ẩm thực Myanmar thường sử dụng tôm, cá, patê cá lên men, thịt lợn và thịt cừu. Thịt bò, bị coi là món cấm kỵ, rất hiếm được sử dụng.

Bagan

Bagan có tên cũ là Pagan, từng là kinh đô của vương quốc Pagan tồn tại từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13 ở miền trung Myanma ngày nay.

 

Thành phố Bagan hiện nay nằm ở vùng đất khô, trung tâm Myanma, nằm ở bờ phía đông sông Ayeyarwady, cách Mandalay 145 km về phía Tây Nam, thuộc Vùng Mandalay. Nó có diện tích khoảng 25 dặm vuông với hàng trăm đền chùa, tự viện. Những đền chùa này được xây dựng trong khoảng từ giữa thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 13, trong thời kỳ chuyển tiếp từ Phật giáo Đại thừa sang Phật giáo Theravada. Những đền chùa được xây dựng trong thời đại hoàng kim này đánh dấu sự khởi đầu của những truyền thống Phật giáo mới ở Myanma.

Đền Ananda là một trong những ngôi đền rộng lớn nhất và được bảo quản tốt nhất ở đây. Nó được xây dựng vào năm 1105, biểu thị trí tuệ vô thượng vô biên của Phật. Ngôi đền được làm bằng đá, có kiến trúc theo hình thập tự, ở trung tâm là khối lập phương và trên mỗi phía là tượng Phật đứng. Khối kiến trúc vươn lên với tận cùng là các đỉnh nhọn, vuốt thon búp măng, gọi là shikhara. Mặt tường phía ngoài có các bức tranh ghép bằng gạch men bóng pha màu, minh họa những cảnh trong cuốn Bản sinh kinh.

Đền Thatbinnyu được xây dựng vào giữa thế kỷ 12 là ngôi đền cao nhất ở Bagan và có thể được nhìn thấy tại mọi điểm ở vùng này. Đây là công trình có kiến trúc tại Myanmar được nhiều người biết đến. Ở Bagan còn có những ngôi chùa bằng gạch và sau đó được phủ vàng. UNESCO đã không thành công trong việc đưa Bagan vào danh sách di sản văn hóa thế giới.

Mandalay

Mandalay (tọa độ 21°58′B 96°04′Đ) là thành phố lớn thứ 2 tại Myanma (Miến Điện) với dân số 927.000 người năm 2005, vùng đô thị bao gồm các địa phương xung quanh là 2,5 triệu người. Đây là kinh đô của hoàng triều cuối cùng của Miến Điện và là thủ phủ của Vùng Mandalay. Sông Ayeyarwady chảy phía tây, ôm lấy thành phố. Mandalay cách thành phố Yangon 716 km về phía bắc. Mandalay nằm ở trung tâm của vùng khô Myanma. Mandalay là trung tâm kinh tế của Thượng Miến Điện và được coi là trung tâm của nền văn hóa Miến Điện. Một dòng liên tục của những người nhập cư Trung Quốc, chủ yếu là từ tỉnh Vân Nam, trong hai mươi năm qua, đã định hình lại cơ cấu dân tộc của thành phố và gia tăng thương mại với Trung Quốc. Mặc dù gia tăng gần đây của Naypyidaw, Mandalay vẫn là trung tâm chính về thương mại, giáo dục và trung tâm y tế của Thượng Miến Điện.

Như phần lớn cố đô (và thủ đô hiện tại) của Miến Điện, Mandalay được thành lập trên những mong muốn của người cai trị vào thời kỳ đó. Ngày 13 tháng 2 năm 1857, vua Mindon thành lập một thủ đô hoàng gia mới ở chân núi Mandalay, bề ngoài là để thực hiện một lời tiên tri về sự ra đời của một đô thị của Phật giáo trong đó vị trí chính xác trên nhân dịp lần thứ năm thánh của Phật giáo 2400.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Lào

Địa điểm của thành phố thủ đô mới có diện tích 25,5 dặm vuông (66 km²), bao quanh bởi bốn con sông. Kế hoạch vạch ra một thành vuông bố trí lưới 144 ô vuông, giữa là một khối vuông 16 cung điện hoàng gia hợp chất lấy đồi Mandalay làm trung tâm. 1020 mẫu Anh (413 ha) thành được bao quanh bởi bốn 6.666 feet (2.032 m) bức tường dài 210 ft và một con hào rộng 64 m và sâu 4,6 m. Trong khoảng cách 169 m dọc theo bức tường, là tháp pháo với ngọn tháp dát vàng có đồn canh.

Các bức tường có ba cửa trên mỗi bên, và năm cầu băng qua con hào. Ngoài ra, nhà vua cũng cho xây chùa Kuthodaw, các sảnh tôn phong cao ơn Pahtan-haw Shwe Thein, Zayats Thudhamma hoặc nhà công cho giảng thuyết, và các thư viện cho các kinh điển Phật giáo. Trong tháng 6 năm 1857, cựu hoàng cung của Amarapura đã bị tháo dỡ và di chuyển bằng voi đến vị trí mới ở chân của đồi Mandalay mặc dù xây dựng tổ hợp cung điện được chính thức hoàn thành chỉ hai năm sau, ngày thứ hai 23 tháng 5 năm 1859. Trong 26 năm tiếp theo, Mandalay là thủ đô hoàng gia cuối cùng của vương quốc Miến Điện cuối cùng độc lập trước khi bị người Anh thôn tính. Mandalay không còn là thủ đô vào ngày 28 tháng 11 năm 1885, khi người Anh buộc vua Thibaw và Supayalat hoàng hậu phải sống lưu vong, kết thúc chiến tranh Anh-Miến Điện lần thứ ba.

Bago

Thành phố Bago, tên trong quá khứ vinh quang là Pegu, Hanthawaddy, là thủ phủ của vùng Bago. Thành phố này cách Yangon khoảng 80 km về phía Bắc. Thành phố nằm ở hai bên bờ sông Ayeyarwady, bên bờ phía Đông là khu phố cổ và bên bờ phía Tây là khu phố mới. Thành phố có khoảng hơn 200.000 dân.

Theo truyền thuyết, hai hoàng tử người Mon từ Thaton đã tới Bago vào năm 573. Vào khoảng năm 850, nhà địa lý học người Ả Rập là Ibn Khudadhbin đã nhắc đến thành phố này. Từ năm 1056, người Miến từ Bagan tới cai trị thành phố. Sau khi Bagan bị quân Mông Cổ lật đổ vào năm 1287, nó lại trở về với người Mon.

Đã từng có một triều đại của người Mon ở Pegu. Thời vua Rajadhirat (1383–1421) Pegu có chiến tranh liên miên với Ava. Giữa thế kỷ 15, nữ vương Baña Thau (tiếng Myanma: Shin Saw Bu; 1453-72) đã truyền ngôi cho một nhà sư tên là Dhammazedi (1472-92) và vị sư này đã đưa Pegu trở thành một trung tâm thương mại và trung tâm của Phật giáo Theravada.

Thời kỳ 1369-1539, Hanthawaddy trở thành tên gọi của thành phố này khi ấy là kinh đô của vương quốc Mon Ramanadesa, mà phạm vi thống lĩnh của nó bao trùm toàn vùng Hạ Miến. Từ năm 1939, vua Tabinshweti người Miến của vương quốc Taungoo đã chiếm thành phố và biến nó thành kinh đô của vương quốc Taungoo cho tới tận năm 1599. Thời kỳ 1613-1634, thành phố lại tiếp tục được chọn làm kinh đô và làm căn cứ tổ chức các cuộc chinh phạt Xiêm. Vì là thành phố cảng, nên người châu Âu đã đến nơi này từ khá sớm và đã bị hấp dẫn. Năm 1740, người Mon lại vùng lên và kiểm soát thành phố này trong một thời gian cho đến khi vua Alaungpaya chiếm lại và phá hủy thành phố vào năm 1757.

Bago được tái thiết bởi vua Bodawpaya (1782-1819), nhưng thời gian đó, sông đổi hướng và thành phố không còn nối với biển được nữa, nên tầm quan trọng của nó cũng mất đi. Sau Chiến tranh Anh-Miến thứ hai, người Anh cai trị thành phố.

Mingun

Làng Mingun nằm ở phía bắc TP Mandalay bên kia bờ dòng sông Ayeyawadi. Ở đó có nhiều bảo tháp có quả chuông Mingun và đôi tượng Chinthe vô cùng nổi tiếng, được người dân xem như những báu vật linh thiêng.

Chinthe (linh vật nửa sư tử nửa rồng) là một đôi tượng khổng lồ đứng canh giữ sát bờ sông. Tương truyền, trước khi bị phá hủy bởi cơn động đất dữ dội, mười người có thể trú trong vòm miệng của Chinthe để tránh những cơn mưa khắc nghiệt của vùng Mingun.

Còn bảo tháp Mingun mang đến cho người đối diện cảm giác choáng ngợp, khối gạch nung màu vàng cam nổi bật trên nền trời xanh cao sừng sững. Gian thờ Phật dưới chân tháp có lối vào nhỏ nhưng trong lòng lại rất rộng. Dưới cái nắng như đổ lửa, những người dân Myanmar thành kính đi chân trần vào lễ. Du khách cũng được yêu cầu bỏ dép từ dưới chân bảo tháp để đi lên đỉnh…

Thời hưng thịnh, dưới sự trị vì của nhà vua Bodawpaya, hàng ngàn nô lệ và tù nhân chiến tranh đã được sử dụng để xây dựng bảo tháp này vào năm 1790. Nhà vua Bodawpaya trực tiếp chỉ đạo thi công và mời những kiến trúc sư thành thạo nhất về việc tạo móng cho công trình. Mỗi cạnh đáy của bảo tháp dài đến 460 feet (hơn 150m). Nếu nhà vua không qua đời đột ngột năm 1819 thì công trình này sẽ có thể cao đến 500 feet (170m), sau đó còn có thêm một trận động đất lớn năm 1838 đã làm bảo tháp bị nứt gãy, đặc biệt là phần ngọn.

Chỉ có một lối lên bảo tháp ở phía tây nam. Qua gần hai trăm bậc thang, đỉnh bảo tháp hiện ra khá ngổn ngang. Từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn về ngôi làng Mingun thanh bình, dòng Ayeyawadi hiền hòa vẫn ngày ngày chở những hạt phù sa về hạ nguồn. Qua hơn hai thế kỷ, nơi đây vẫn là điểm hành hương thiêng liêng của các tín đồ Phật giáo.

Nằm không xa bảo tháp Mingun là nơi lưu giữ quả chuông Mingun. Vào năm 1808, nhà vua Bodawpaya cho đúc quả chuông này với mục đích thờ phụng. Đây là quả chuông lớn nhất thế giới được treo và còn nguyên vẹn.(quả chuông lớn nằm ở Moscow – Nga nhưng đã bị nứt vỡ). Trận động đất năm 1838 đã làm gãy thanh gỗ tếch treo chuông, sau đó người Anh đã giúp dân làng Mingun xây trụ đỡ bằng kim loại treo quả chuông gần bờ sông.

Sagaing

Sagaing (tiếng Miến Điện: စစ္‌ကုိင္‌းမ္ရုိ့; MLCTS: sac kuing: mrui.; dân số ước tính khoảng 300.000) là thành phố chính, thủ phủ của vùng Sagaing ở Myanma. Thành phố này nằm ở bên bờ sông Ayeyarwady, 20 km về phía tây nam, của Mandalay nằm bên bờ đối diện của con sông.

Sagaing là một trung tâm tôn giáo với các chùa chiền Phật giáo. Thành phố này đã từng là kinh đô của hoàng gia Miến Điện giai đoạn 1760-1764.

Cầu Ava 16 nhịp do người Anh xây nối Sagaing với Mandalay, là một địa điểm tham quan của du khách. Một địa điểm khác gần thành phố này là chuông Mingun được cho là chuông lớn nhất thế giới, trọng lượng 90 tấn. Thành phố này có Viện Giáo dục Sagaing và Cao đẳng Giáo dục Sagaing.

Pindaya

Pindaya nổi tiếng với hang động đá vôi, gần kề xen hồ, đặt sâu trong sườn đồi có độ cao khoẳng 1.200m so với mực nước biển, là hang động có sức chứa khoảng hơn 8000 Phật trải dài 150m, với những kích cỡ khác nhau. Chúng được làm bằng đá cẩm thạch trắng, đồng hoặc thạch cao, được phủ vàng lá. Ngay tại lối vào hang động có ngôi chùa Shwe Min U cao 15m.

Cái tên Pindaya, gắn liền với một truyền thuyết địa phương có từ lâu đời. Về một chàng hoàng tử cứu bảy nàng công chúa khỏi con nhện khổng lồ. Dọc hai bên đường vào khu vực hang động là các cây đa hàng trăm năm tuổi, tán rộng và chiếm cả một khoảng không gian rộng lớn.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Campuchia

Nhìn bên ngoài động, bạn sẽ thấy nó mang dáng vẻ của một ngôi chùa, lối đi được lợp mái. Nhưng đi sâu vào trong, bạn sẽ kinh ngạc bởi một không gian hoàn toàn khác vẻ bề ngoài. Hàng ngàn Phật vàng lót kệ, to, nhỏ, cao, thấp, giá đá và măng đá bàn thờ rất phong phú và đa dạng, tất cả đều được sơn son thếp vàng thu hút khách du lịch.

Những tượng được tạc khổng lồ, và những miêu tả đặc điểm, tư thế ngồi hay đứng cũng khá là ấn tượng. Trong ngăn thứ 2 của hang động là một không gian mở với tiếp theo hàng ngàn tượng Phật khác nữa. Được bài trí xen kẽ với thạch nhũ, lấp lánh ánh vàng, ánh kim, toát lên vẻ trang nghiêm mà lộng lẫy.

Naypyidaw

Naypyidaw (phiên âm: Nây-pi-đô; tiếng Miến Điện: နေပြည်တော်; MLCTS: Nepranytau, chính tả chính thức là Nay Pyi Taw và Naypyitaw; phát âm [nèpjìdɔ̀]) là thủ đô của Myanmar. Theo Hiến pháp năm 2008, thành phố về mặt hành chính được coi là Lãnh thổ Liên bang Naypyidaw.

Vào ngày 6 tháng 11 năm 2005, thủ đô hành chính của Myanmar đã chính thức được chuyển tới một vùng đồng quê cách 3,2 km (2,0 mi) về phía tây của Pyinmana, và có khoảng cách xấp xỉ 320 km (200 mi) về phía bắc của cố đô Yangon (Rangoon).

Tên gọi chính thức của thủ đô được tuyên bố vào ngày 27 tháng 3 năm 2006, tức ngày các lực lượng vũ trang Myanmar. Đô thị kế hoạch này dự kiến sẽ hoàn tất việc xây dựng vào năm 2012. Năm 2009, thành phố có 925.000 dân, và là thành phố lớn thứ ba của Myanma, sau Yangon và Mandalay. Năm 2011, Naypyidaw là một trong mười thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Chùa Shwedagon

Chùa Shwedagon (Shwedagon Zedi Daw /ʃwèdəɡòun zèdìdɔ̀/), hay Chùa Vàng, ở Yangon được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất Myanma. Tại đây có lưu giữ bốn báu vật thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo, gồm cây gậy của Phật Câu Lưu Tôn, cái lọc nước của Phật Câu Na Hàm, một mảnh áo của Phật Ca Diếp, và tám sợi tóc của Phật Thích Ca. Stupa dát vàng của chùa cao tới 98 mét trên đỉnh nạm 5448 viên kim cương và 2317 viên hồng ngọc, trên cùng là búp kim cương gắn một viên kim cương 76 carat (15 g). Chùa lại nằm trên đồi Singuttara, từ đây có thể quan sát được cả thành phố Yangon.

Từ chân đồi có 4 lối leo lên chùa. Mỗi lối lên có một cặp chinthe (sư tử thần) canh gác. Lối phía đông và phía nam có rất nhiều cửa hàng bán dụng cụ thờ Phật và dụng cụ tu hành. Tại các bậc thang cuối của lối lên phía Nam có chân dung hiện thân thứ hai của Phật, tức là Phật Câu Na Hàm.

Đế tháp bằng gạch, dát bên ngoài là những tấm vàng. Trên đế tháp là sân hiên mà chỉ có các nhà sư và nam giới được phép đi vào. Tiếp theo là phần hình chuông của tháp. Trên phần hình chuông là phần mũ tháp. Trên phần mũ tháp là phần giả như các cánh sen. Trên phần giả các cánh sen là phần có hình dáng hoa chuối, rồi trên nữa là phần hình vương miện. Phần hình vương miện còn gọi là lọng (hti) được nạm 5448 viên kim cương và 2317 viên hồng ngọc. Trên cùng là cánh hình cờ và ở vị trí cao nhất là búp kim cương gắn một viên kim cương 76 carat (15 g).

Vàng giát quanh tháp là những tấm vàng dát mỏng được các thợ thủ công chế tác bằng kỹ thuật truyền thống. Các tín đồ mua các tấm vàng dâng nhà chùa để giát vào tháp. Việc dâng vàng này bắt đầu có từ thời Hoàng hậu Shin Sawbu.

Đền Ananda

Nhưng cũng có người gọi ngôi đền này là Ananda Pahto và Ananda Phaya, mang trong mình cấu trúc của một tầng duy nhất được xây dựng vào cuối thời kỳ Bagan. Theo một truyền thuyết địa phương kể lại rằng: có 8 tu sĩ đến cung điện vào một ngày xin bố thí. Một lần họ nói với vua rằng, họ đã sống trong ngôi đền động Nandamula ở dãy Himalaya. Vị vua đã bị cuốn hút bởi những câu chuyện và mời các nhà sư trở về cung điện của mình. Họ đã cho nhà vua thấy phong cảnh thần thoại nơi họ có. Vua Kyansittha đã bị choáng ngợp bởi cảnh và có một mong muốn xây dựng một ngôi đền mà mát mẻ bên trong ở giữa vùng đồng bằng Bagan. Sau khi xây dựng đền, vua đề nghị cho các kiến trúc sư làm cho phong cách của ngôi chùa độc đáo hơn.

Điểm nổi bật của ngôi đền là mạ vàng với tháp ở chóp trên đầu của ngôi đền. Vào buổi tối, ngôi đền được thắp sáng bằng đèn tạo nên một không khí thần bí đến mê hoặc.

Ngoài ra, ngôi đền là một cấu trúc đối xứng thanh lịch với cách bố trí một đường chéo Hy Lạp. Bạn sẽ dễ dàng nhận ra rằng ngôi đền còn có sự ảnh hưởng của Ấn Độ. Một hành lang kéo dài nhưng lại đơn giản, không quá cầu kỳ những những nơi khác, quảng trường trung tâm 53m. Những lối đi vào tạo nên một đường chuyền hoàn hảo, các bậc thang được trang trí với 554 gạch men, trên đó chép về câu chuyện cuộc đời Đức Phật.

Ở trung tâm của chùa Ananda là một căn phòng vuông lớn nơi bốn hình Phật đứng tuyệt đẹp. Bằng gỗ tếch với hình ảnh mạ vàng đại diện cho Đức Phật Kassapa (miền Nam), Kakusandha Phật (miền Bắc), Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Đông) và Đức Phật Gautama (West). Những điêu khắc đá, các bức bích họa cũng khá là nổi bật.

Bạn cũng có thể tham gia lễ hội đền Ananda rơi vào ngày trăng tròn của Pyatho (thường là giữa tháng Mười Hai và tháng Giêng. theo âm lịch). Thu hút hàng ngàn người dân địa phương gần xa. Lên đến một ngàn tu sĩ đọc ngày và đêm trong thời gian ba ngày của lễ hội.

Chùa Hsinbyume 

Quay ngược cỗ máy thời gian trở về tìm hiểu nét tinh hoa văn Myanmar tại ngôi chùa trắng Hsinbyume.

Để tưởng nhớ người vợ quá cố của mình, vua Bagyidaw đã cho xây dựng ngôi chùa Hsinbyume (được đặt theo tên của hoàng hậu) vào năm 1816 với màu trắng nổi bật và được trang trí bằng nhiều con vật mang tính thần thoại.

Ngôi chùa có thiết kế kiến trúc được mô phỏng theo mẫu núi thần Meru – được xem là trung tâm của vũ trụ. 7 lớp hành lang màu trắng uốn lượn của chùa trông giống như 7 ngọn núi bao bọc xung quanh núi thần Meru.

Chùa Núi Vàng Kyaiktiyo

Chùa Hòn đá Vàng hay chùa Kyaikhtiyo là một trong những ngôi chùa cổ và nổi tiếng nhất trong các ngôi chùa ở Myanmar, là di sản văn hóa thế giới.

Chùa Hòn Đá Vàng (chùa Kyaikhtiyo) là một trong những di tích vô cùng nổi tiếng của Myanmar và được xếp vào một trong số rất ít những kiệt tác của thiên nhiên. Chùa nằm trên đỉnh núi Kyaikhtiyo với độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển và cách Yagon hơn 200 km. Chùa Kyaikhtiyo tọa lạc trên một khối đá hình quả trứng nằm chênh vênh trên sườn ngọn núi cùng tên. Nhiều người cho rằng ngôi chùa được thi công xây dựng trong thời gian Đức Phật còn sống, trên 2.500 năm trước.

Cả ngôi chùa và hòn đá đều được dát kín bằng vàng lá. Đứng ở các phía khác nhau nhìn lại, hòn đá vàng có hình dáng hoàn tàn khác nhau.

Gắn liền với hòn đá vàng là cả một truyền thuyết thú vị và kỳ bí về việc Đức Phật đến truyền đạo ở nơi đây. Bởi vậy, lúc nào nơi đây cũng có đông đảo người tới thăm viếng, chiêm bái, hành lễ. Một điều đặc biệt là mặt tiếp xúc giữa hòn đá và mặt đất chỉ có 78 cm².

Ngôi chùa Kyaikhtiyo (Golden Rock với nhiều tượng Phật được đặt khắp ngóc ngách, đặc biệt có một số tượng Phật được khảm bằng hàng nghìn viên đá quý, vài trăm viên kim cương với hàng trăm chiếc chuông vàng.

Khi màn đêm buông xuống, ngôi chùa rực ánh vàng, lung linh trong làn khói hương cùng tiếng cầu nguyện rì rầm. Vào thời điểm nào trong ngày, Chùa Hòn Đá Vàng cũng có vẻ đẹp kỳ bí riêng. Người dân ở đây tin rằng, hòn đá thiêng nằm cheo leo trên bờ một vách đá mà không bị rơi xuống dưới bởi nó được neo giữ chỉ bởi một sợi tóc của Đức Phật.

Yangon

Yangon hay Ngưỡng Quang (tiếng Miến Điện: ရန်ကုန်, MLCTS rankun mrui, phát âm [jàɴɡòʊɴ mjo̰]) trước đây gọi là Rangoon là thành phố lớn nhất Myanma (trước đây là Miến Điện)) với dân số 4.082.000 (2005). Thành phố nằm ở ngã ba sông Yangon và sông Bago, cách Vịnh Martaban 30 km. Tọa độ của Yangon là 16°48′ vĩ bắc, 96°09′ độ kinh đông (16.8, 96.15), theo múi giờ UTC/GMT +6:30 h.

 

Tháng 11 năm 2005, Hội đồng hành chính quân sự Myanma đã quyết định dời đô từ Yangon về Naypyidaw thuộc tỉnh Mandalay. Naypyidaw chính thức trở thành thủ đô mới của Myanma từ ngày 26 tháng 3 năm 2006.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Thái Lan

So với các thành phố lớn ở Đông Nam Á, Yangon tương đối kém phát triển. Việc bùng nổ xây dựng phần lớn là do đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc và Singapore. Nhiều cao ốc thương mại và nhà ở đã được xây dựng ở trung tâm thành phố. Yangon có nhiều tòa nhà thời thuộc địa nhất Đông Á hiện nay. Các văn phòng chính phủ ở trong các tòa nhà được xây thời thuộc địa (ví dụ: Tòa án Tối cao Myanma, Tòa thị chính, Chợ Bogyoke và Bệnh việc đa khoa đang được đưa vào kế hoạch gia cố nâng cấp. New Towns (မ္ရုိ့သစ္) và các khu ngoại ô khác như thị trấn Thaketa vẫn tiếp tục nghèo khổ.

Yangon là kết hợp của hai từ: Yan (những kẻ thù) và koun (chạy thoát). Yangon là một thành viên của Hệ thống các thành phố lớn châu Á 21.

Núi Popa và tu viện Taung Kalat

Núi Popa, một ngọn núi lửa cao 1518 mét trên mực nước biển, và nằm ở trung tâm Myanmar khoảng 50 km (31 dặm) về phía đông nam Bagan (Pagan) trong dãy Pegu. Nó có thể được nhìn thấy từ sông Ayeyarwady xa cách đó 60 km trong điều kiện trời trong. Núi Popa có lẽ được biết đến nhiều nhất do quanh đó có nhiều tu viện Phật giáo tuyệt đẹp như tranh vẽ. Popa trong tiếng Tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là “bông hoa”, đây được xem là ngọn núi linh thiêng ở Myanmar, nơi cư trú của các thần linh Nat.

Phía tây nam của núi Popa là Taung Kalat (đồi bệ), ngọn núi lửa cao 737 mét (2,417 ft) trên mực nước biển. Một tu viện Phật giáo nằm ở đỉnh Taung Kalat, còn gọi là tu viện Taung Kalat hay là tu viện Tuyin Taung.

Tu viện Taung Kalat là một trong những danh lam thắng cảnh Phật giáo tuyệt vời nhất ở Myanmar. Để đến được tu viện Taung Kalat, du khách phải đi hết chính xác 777 bậc thang và những người lên đến đỉnh sẽ có một cái nhìn cực kỳ ngoạn mục ngắm nhìn toàn cảnh. Người ta có thể nhìn thấy thành phố cổ Bagan và đỉnh hình nón đơn độc khổng lồ của núi Popa, núi lửa mà thực sự gây ra sự sáng tạo của các plug núi lửa.

Đôi khi, đồi bệ Taung Kalat cũng được gọi là Núi Popa, để tránh nhầm lẫn, núi lửa (với miệng núi lửa của nó trên một mặt núi) được gọi là Taung Ma-gyi (đồi mẹ).

Nhiều huyền thoại gắn liền với ngọn núi Popa này, bao gồm cả việc tạo ra không rõ ràng của nó, từ một trận đại địa chấn, và ngọn núi phun trào ra khỏi mặt đất vào khoảng năm 442 trước kỷ nguyên tây lịch. Sự hiện diện của những ngôi miếu thờ vị thần Nat, địa phương cho thấy có mặt của một tín ngưỡng vật linh, vì sự bản địa hóa Phật giáo để cùng hòa quyện với nhân gian Myanmar. Theo tín ngưỡng của phật tử Myanmar, những vị thần Nat là một nhóm những vị thần linh khác nhau từ những vị thần bảo hộ, mang hình hài con người cho đến những vị Lâm thần.

Có truyền thuyết rằng trước khi triều đại của Bagan vua Anawrahta (1044 – 1077) hàng trăm động vật đã hy sinh ở đây như là một phần của nghi lễ thờ phụng thần Nat.

Một truyền thuyết kể về Popa Meday (người mẹ hoàng gia của Popa), người mà theo tích xưa có tên là Me Wunna vốn sống trên đỉnh Popa và chỉ ăn hoa. Bà ngỏ lòng yêu Byatta, một quân nhân hoàng gia đi thu thập hoa từ Popa về cho nhà vua Anawrahta xứ Bagan (1044-1077). Byatta đã bất tuân lệnh nhà vua, người phản đối cuộc hôn nhân và những đứa con của họ đã bị mang về cung điện. Mẹ Wunna vì quá đau khổ đã chết cùng với Byatta và trở thành một vị Nat. Hai người con của bà cũng trở thành những anh hùng khi phục vụ nhà vua nhưng sau này lại bị quy trách nhiệm trong việc xây dựng ngôi chùa ở Taungbyone gần Mandalay và bị hành hình. Họ trở thành 2 vị Nat rất quyền năng nhưng thân xác đã gửi lại Taungbyone nơi lễ hội chính được tổ chức hàng năm vào tháng Wagaung (tháng 8).

Mặc dù có tất cả 37 vị Đại Nat được thờ phụng ở Taung Ma-gyi, chỉ bốn trong số họ có nơi ở trên chính ngọn đồi này. Đó là Maung Tint Dai, Saw Me Yar, Byatta và Mai Wunna. Mỗi trong những vị này có một câu chuyện về cách họ trở thành những vị Nat.

Monywa

Monywa là đô thị lớn thứ bảy ở Myanma xét theo nhân khẩu. Đây là trung tâm hành chính của thị xã Monywa thuộc huyện Monywa và là thành phố lớn nhất vùng Sagaing ở phía Bắc Myanma mặc dù không phải là thủ phủ của vùng này. Thành phố nằm bên bờ Đông của sông Chindwin.

Người ta có thể đến Monywa từ Mandalay bằng tàu hỏa hoặc bằng ô tô. Monywa có dân số là 185.783 người.

Tại Monywa có một số cơ sở giáo dục và nghiên cứu bậc cao như Trường Đại học Tổng hợp Monywa, Trường Đại học Sư phạm Monywa, Viện Nghiên cứu Kinh tế Monywa, Trường Đại học Công nghệ Monywa, Trường Đại học Công nghệ thông tin Monywa.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!