READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại L...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Lạng Sơn

Lạng Sơn còn gọi là xứ Lạng là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh.

Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 31 km về phía đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông.

Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng.

Cầu Kỳ Lừa

Cầu Kỳ Cùng bắc qua sông Kỳ Cùng, được thực dân Pháp thi công xây dựng khoảng năm 1897-1899 khi nhận thấy vị trí quan trọng trên tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn, Đồng Đăng. Trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, năm 1979 cầu bị phá hủy hoàn toàn. Ảnh tư liệu.

Để đảm bảo giao thông tuyến huyết mạch trên quốc lộ 1A cũ, cầu Kỳ Cùng được xây dựng từ năm 1985 và đến 1987 thì hoàn thành. Cầu rộng 9,8 m, dài 92 m, sơ đồ nhịp 2×46 m, cao hơn cầu cũ khoảng 2 m.

Cầu nối cửa khẩu Đồng Đăng, thành phố Lạng Sơn với các tỉnh miền xuôi. Hai bên cầu Kỳ Cùng là di tích lịch sử, văn hóa, tâm linh: Đền quan lớn Tuần Tranh và chùa Thành. Mỗi năm lượng du khách đến đây vãn cảnh khá đông, đặc biệt 3 tháng âm lịch đầu năm.

Khi quốc lộ 1A mới hoàn thành, cầu Kỳ Cùng phục vụ cho người dân di chuyển trong thành phố Lạng Sơn.

Theo thời gian, cầu có biểu hiện xuống cấp. Khổ cầu hẹp, tải trọng chỉ 10 tấn, nên thường xuyên bị ách tắc trong giờ cao điểm. Do vậy tỉnh Lạng Sơn đã phê duyệt dự án xây dựng cầu Kỳ Cùng mới tại vị trí hiện nay.

Trước thông tin cầu Kỳ Cùng bị dỡ bỏ để xây mới, nhiều người dân Lạng Sơn tranh thủ đến lưu lại kỷ niệm. Ngày 26/10, anh Tùng cùng nhóm bạn trong câu lạc bộ ôtô địa hình tập trung tại cầu Kỳ Cùng chụp ảnh.

Chùa Tiên

Chùa thường gọi là chùa Song Tiên, tọa lạc ở phố Hoàng Hoa Thám, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chùa nằm ngang chừng núi Đại Tượng (lên 64 bậc cấp), quả núi đá có hình con voi nằm về phía Nam thị xã Lạng Sơn, cách cầu Kỳ Cùng khoảng 500m, trên đường đi Mai Pha. ĐT : 025.810387. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Sách Xứ Lạng – văn hóa và du lịch (NXB. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2000) cho biết chùa trước đây ở cạnh giếng Tiên do dân làng Phai Luông lập vào thời Lê Hồng Đức (1460 – 1497). Sau đó, chùa bị hư hại, mới chuyển vào động núi Đại Tượng. Chùa gắn với truyền thuyết Tiên Ông giúp dân làng nguồn nước để sinh hoạt.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nha Trang

Sự tích của chùa qua các chuyện kể dân gian đều tập trung vào Ông Tiên ngự trên núi, đã dẫm chân xuống đá biến thành giếng Tiên có đầy nước trong vắt cho dân làng dùng trong những năm hạn hán. Có truyền thuyết khác kể về hai ông Tiên ngồi đánh cờ đến sáng không về trời, đã hóa đá…

Chùa nằm trong động, chính giữa thờ chư Phật, Bồ tát. Cung bên phải thờ vị anh hùng Trần Hưng Đạo, cung bên trái thờ Thánh Mẫu. Động còn giữ bút tích của Ngô Thì Sĩ ghi trên bia đá bài Trấn doanh bát cảnh (tám cảnh đẹp của xứ Lạng).

Đền Kỳ Cùng

Đền Kỳ Cùng (còn có tên là đền Quan Lớn Tuần Tranh) nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng và ở ngay đầu cầu Kỳ Lừa; hiện thuộc địa phận phường Vĩnh Trại, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam. Năm 1993, ngôi đền đã được xếp hạng là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia.

Không rõ năm xây dựng, chỉ biết đền Kỳ Cùng có từ rất lâu, và ban đầu chỉ là một ngôi đền nhỏ làm bằng đất lợp ngói, để thờ thần Giao Long. Theo tín ngưỡng của người dân địa phương, thì đây là một vị Thủy thần.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép về đền Kỳ Cùng như sau: Ở bên tả sông Kỳ Cùng thuộc xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng, có con giao long thành thần đào hang ở đây, đền rất thiêng, nhiều lần được phong tặng. Khi sứ bộ qua đây, trước sửa lễ cáo yết, sau mới sang đò.

Về sau, đền Kỳ Cùng thờ Tuần Tranh. Tương truyền, ông là một vị quan, được cử lên Lạng Sơn trấn ải biên thùy. Một lần đánh trận, quân của ông bị ốm đau và thương vong nhiều. Sợ triều đình trách phạt, nên ông đã nhảy xuống sông tự vẫn.

Đến đời nhà Lê trung hưng, khi Tả Đô đốc Hán quận công Thân Công Tài lên Lạng Sơn nhậm chức rồi biết được chuyện ấy, đã viết sớ tâu với vua để biện minh cho ông.

Vì thời gian và vì chiến tranh, đền Kỳ Cùng xưa đã không còn. Ngôi đền ngày nay được xây dựng theo kiểu chữ đinh (丁), mặt tiền quay về hướng Nam.

Hiện nay, ngoài Quan Lớn Tuần Tranh, trong đền còn phối thờ Tam tòa Thánh mẫu và một số nhân thần khác. Hằng năm, lễ hội chính của đền được tổ chức từ ngày 22 – 27 tháng Giêng âm lịch.

Bến đá Kỳ Cùng (Kỳ Cùng thạch lộ). Đây là một di tích và là một thắng cảnh từng được Ngô Thì Sĩ xếp hạng là một trong 8 cảnh đẹp (Trấn doanh bát cảnh) của trấn lỵ Lạng Sơn ở thế kỷ 18. Bến đá nằm bên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, và đối diện với Bến Đá Kỳ Cùng.

Thành nhà Mạc

Từng là căn cứ quân sự nhằm chống lại nhà Lê – Trịnh vào thế kỷ 16-17, hiện nay thành nhà Mạc chỉ còn lại khoảng 300 m tường thành kiên cố.

Thành nhà Mạc thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, là di tích lịch sử kiến trúc quân sự phản ánh thời kỳ phong kiến Việt Nam suốt từ cuối thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17. Thành là căn cứ quân sự hiểm yếu chắn con đường độc đạo nối từ Ải Bắc xuống phía Nam do Mạc Kính Cung xây dựng nhằm chống lại Lê – Trịnh.

Dựa vào thế của 3 ngọn núi cao hàng chục mét, trong đó có núi Tô Thị, Lô Cốt, Mạc Kính Cung khi xưa đã cho xây dựng những đoạn tường thành, bao quanh một bãi đất trống bằng phẳng rộng hàng chục nghìn m2.

Dấu tích hiện nay của thành gồm 2 đoạn tường khoảng 300 m, mặt thành rộng khoảng một mét, xây bằng những khối đá lớn giữa hẻm núi.

Bức tường thành phía Tây Bắc, xây bằng đá hộc miết mạch vôi cát có chiều dài 65 m, chiều cao 4 m, có cửa công, lỗ châu mai, cửa ra vào.

Bức phía Đông dài 75 m cũng có cổng ra vào, 15 lỗ châu mai, 7 cửa công. Chất liệu kết dính những khối đá hộc lớn lại với nhau là mật mía và mật ong.

Thành nhà Mạc dựa vào núi nàng Tô Thị, nằm trong quần thể di tích được đưa vào khai thác phục vụ du lịch. Năm 1962, thành được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia; năm 2010 được đầu tư, tôn tạo đưa vào phục vụ du khách du lịch tham quan.

Từ chân núi dẫn lên cổng thành gồm hơn 100 bậc tam cấp. Để du khách lên các đỉnh núi tham quan, ngắm cảnh là hàng trăm bậc thang được xây dựng uốn lượn trên các đỉnh núi. Tuy được trùng tu tôn tạo, nhưng hiện nhiều đoạn thành bị che phủ bởi cây bụi, lau lách rậm rạp.

Đoàn Thành cổ

Nằm ở phường Chi Lăng, thành cổ với chu vi khoảng một km từng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Lạng Sơn. Thành có vị trí quan trọng trong việc trấn giữ phòng thủ quân sự nơi cửa ngõ đất nước.

 

Thành cổ Lạng Sơn hay còn gọi là Đoàn thành (phường Chi Lăng, TP Lạng Sơn) là di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện thời điểm xây thành chưa được xác định, đến năm Hồng Đức thứ 26 nhà Lê (1495) được tu bổ. Những lần sửa chữa tiếp theo là vào năm 1756-1758 triều Cảnh Hưng, năm 1837 nhà Nguyễn, năm 2001 cổng vòm phía Nam được tu bổ và cắm bia biển bảo vệ, tới năm 2005-2006 lại được tu sửa lớn.

Thành cổ hình chữ nhật, có 4 cửa các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và 19 điểm canh, nay chỉ còn lại 2 cổng thành khá nguyên vẹn là phía Nam và Tây cùng một số đoạn thành. Chu vi của thành khoảng một km, xung quanh bốn mặt đều rộng thoáng, bằng phẳng rất thuận tiện cho việc triển khai tấn công và ứng cứu khi cần thiết. Đây là vị trí quân sự đắc địa có ưu thế cả công lẫn phòng thủ. Trong ảnh là cổng phía Nam còn nguyên vẹn.

Một đoạn của thành cổ phía Đông. Thành cổ Lạng Sơn đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1999. Theo Ban quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn, đây là di tích lịch sử có vai trò quan trọng trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm ở Lạng Sơn, là công trình kiến trúc quân sự kiên cố, quy mô của các vương triều phong kiến Việt Nam.

Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị

Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị là một cửa khẩu quốc tế của Việt Nam nằm trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, điểm nối tuyến đường cao tốc Nam Ninh – Hà Nội, là cầu nối quan trọng trong phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tại cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, phía Việt Nam đã cắm cột mốc 1116 và phía Trung Quốc cắm cột mốc 1117, đây đều là các cột mốc cỡ lớn, có gắn Quốc huy của hai nước. Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị nằm trên Quốc lộ 1A, cách thành phố Lạng Sơn 17 km về phía bắc, cách Hà Nội 171 km về phía đông bắc.

Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị (phía Trung Quốc có Hữu Nghị Quan (tiếng Trung Quốc: 友誼關) tương ứng tạo thành cặp Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị-Hữu Nghị Quan) thời phong kiến từng được gọi bằng các tên Lăng Quan, Đại Nam Quan, Giới Thủ Quan, Nam Quan. Năm 1953, cửa khẩu được đổi tên thành Mục Nam Quan. Đến năm 1965 thì đổi thành Cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị như ngày nay.

Đền mẫu Đồng Đăng

Câu ca dao da diết trong lòng bất cứ du khách nào đã từng đôi lần đặt chân đến Lạng Sơn. Nhưng Đồng Đăng không chỉ nổi tiếng bởi phố Kỳ Lừa, nàng Tô Thị, chùa Tam Thanh, nơi đây còn thu hút du khách bởi đền Mẫu, một ngôi đền cổ kính uy nghi nằm trên một quả núi, gần chợ Đồng Đăng.

“Đồng Đăng có phố Kì lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…”

Đền Mẫu nằm ở trung tâm thị trấn Đồng Đăng, Lạng Sơn, cách cửa khẩu Hữu Nghị 4km. Đây là ngôi đền lớn có giá trị đặc biệt về kiến trúc, tín ngưỡng tôn giáo và lịch sử, là nơi nhân dân các dân tộc trong tỉnh, du khách tới đây nguyện cầu sự che chở của các đấng linh thiêng cho cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, qua đó gắn kết tinh thần cộng đồng và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Từ xa xưa, nơi đây là một ngôi chùa. Đồng Đăng linh tự gồm có 5 gian thờ: Phía trong cùng là Tam bảo, nơi thờ Phật Chuẩn Đề và Phật bà Quan Âm gian kế tiếp phía ngoài là Tam tòa Thánh mẫu, nơi thờ Mẫu đệ nhất Thượng thiên, Mẫu đệ nhị Thượng ngàn và Mẫu đệ tam Thoải phủ; tiếp theo là gian thờ Sơn trang gồm Chúa Thượng ngàn ở giữa, hai bên là Chầu Mười Đồng Mỏ và Chầu Chín; gian giữa chính điện ngoài cùng thờ Chúa Liễu, hai bên là Chầu Bơ và Chầu Lục; gian bên trái thờ Chầu đệ tứ Khâm sai, ngoài ra còn thờ quan Trần Triều Đức Đại Vương, các thánh cô, thánh cậu….

Thấp thoáng phía sau Tam bảo, một tòa tháp tráng lệ đang được hoàn thiện, như một minh chứng cho sự phát triển về kinh tế, văn hóa của vùng đất miền biên ải. Ngày nay, đền Mẫu Đồng Đăng còn là một điểm dừng chân trong tuor du lịch từ các tỉnh đến Lạng Sơn, đi cửa khẩu Tân Thanh và chợ Đông Kinh..

Chùa Bắc Nga

Chùa Bắc Nga thuộc thôn Bắc Nga, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, nằm trên trục đường 4B (Lạng Sơn – Lộc Bình) và bên dòng sông Kỳ Cùng (đoạn xã Gia Cát), cách thành phố Lạng Sơn 12 km về hướng đông nam.

Qua tích chuyện lưu truyền trong dân gian, rằng nơi đây cảnh đẹp, thường có bầy tiên nữ bay về hái hoa, bắt bướm và tắm ở khúc sông Kỳ Cùng này. Sau đó, nhân dân trong vùng đã góp công, góp của xây dựng Miếu thờ Tiên tại đây với mong muốn các tiên nữ phù hộ cho dân làng một cuộc sống bình an hạnh phúc và lấy ngày 15 tháng Giêng hàng năm để làm Lễ hội Chùa, mời Tiên, mời Phật về phù hộ cho dân làng được bình an, hạnh phúc. Sau này cũng có nhiều tiền nhân, công thần văn sĩ ngưỡng mộ cảnh đẹp đã phát tâm, bỏ tiền trùng tu, tôn tạo miếu thờ Tiên, sau thành chùa thờ Tiên, rồi thờ Phật, gọi là Chùa Bắc Nga (Tiên Nga Tự).

Chùa Bắc Nga nằm trên sườn đồi rộng thoai thoải ở vị trí sơn thủy hữu tình, lưng tựa núi, mặt hướng ra quốc lộ 4B và dòng sông Kỳ Cùng trong xanh uốn lượn tạo nên thế “rồng chầu hổ phục” theo thuyết phong thủy. Kiến trúc trong chùa bài trí khá đơn giản, tuy không thật sự bề thế như nhiều ngôi chùa khác nhưng chùa Bắc Nga từ lâu đã nổi tiếng linh thiêng, thu hút rất nhiều du khách thập phương đến tham quan và nguyện cầu, nhất là ngày hội chùa Bắc Nga.

Chùa Tam Thanh

Chùa Tam Thanh nằm trong động núi đá (nên còn được gọi tên khác là Động Tam Thanh) thuộc địa phận phường Tam Thanh Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Theo sử sách Đại Nam Nhất Thống Chí thì chùa Tam Thanh có từ thời nhà Lê, thuộc địa phận xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng. Đây là ngôi chùa có kiến trúc đẹp tại Lạng Sơn mà khách du lịch không quên ghé thăm,…

Chùa Tam Thanh có một tượng phật A Di Đà màu trắng với nét mềm mại, uyển chuyển được tạc nổi vào vách đá từ thế kỷ 15. Pho tượng này mang phong cách nghệ thuật thời Lê – Mạc (thế kỷ 16-17) tạc theo thế đứng trong hình một lá đề. Tượng cao 202 cm, rộng 65 cm, mặc áo cà sa buông chùm xuống tận gót, hai tay chỉ xuống đất trong thế ấn cam lộ.

Ngoài ra, Chùa còn có hồ Âm Ti với làn nước trong xanh bốn mùa với muôn trùng nhũ đá thiên tạo từ ngàn năm rất đẹp.

Tam Thanh là quần thể 3 động Nhất Thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh nằm trong Chùa Tam Thanh. Ðộng Tam Thanh nằm trong một dãy núi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ xanh. Hang động Tam Thanh ở lưng chừng núi. Cửa hang nhìn về hướng đông cao chừng 8m có lối lên là 30 bậc đá đục vào sườn núi, có nhiều cây cối um tùm che khuất ánh nắng. Vách động bên phải có khắc bài thơ của Ngô Thì Sĩ (1726-1780) khi ông làm đốc trấn Lạng Sơn.

Tam Thanh được mệnh danh là “Đệ nhất bát cảnh Xứ Lạng” (gồm 4 điểm là: động Nhị Thanh, động Tam Thanh, thành nhà Mạc và Nàng Tô Thị).

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Tây Nguyên

Ngoài giá trị danh thắng, chùa Tam Thanh còn được biết đến bởi những giá trị văn hóa. Trong động chùa còn lưu lại hệ thống văn bia khá phong phú của các văn nhân, thi sĩ qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó, tấm bia số 4 là tấm bia có niên đại cổ nhất (bia Ma Nhai), được tạc vào thời Lê Vĩnh Trị năm thứ 2 (1677), ghi lại chi tiết việc xây dựng tôn tạo chùa.

Cột cờ Phai Vệ

Ở những vùng giáp ranh biên giới hay nơi địa đầu của tổ quốc, hình ảnh Quốc kì phấp phới tung bay trên cột cờ uy nghi chính là lời khẳng định chủ quyền tối thượng của dân tộc. Hình ảnh những chiếc cột cờ tại các tỉnh biên giới của tổ quốc mang ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng.

Chính vì vậy mà bao lâu nay tại Lạng Sơn lá cờ tổ quốc luôn tung bay trên đỉnh núi Phai Vệ. Sau nhiều năm xây dựng, cột cờ trên đỉnh núi Phai Vệ đã bị xuống cấp nên năm 2014, tỉnh Lạng Sơn đã sửa chữa cải tạo cột cờ Phai Vệ, biến nơi đây thành một trong những công trình trọng điểm mang ý nghĩa chính trị quan trọng của tỉnh.

Cột cờ Phai Vệ sau khi được nâng cấp đã đi vào sử dụng năm 2014 với chiều cao được tính từ chân núi là 80m, thân dài cột cờ cao 25m. Để di chuyển lên xuống cột cờ du khách có 4 tuyến đường với 535 bậc thang được lát bằng đá xanh tự nhiên. Trên tổng thể kiến trúc, cột cờ Phai Vệ được chiếu sáng bởi hơn 1000 bóng đèn Led nên mỗi khi đêm xuống nơi đây như một bức tranh huyền ảo lung linh đầy màu sắc.

Đối với người dân xứ Lạng, Phai Vệ không chỉ mang một ý nghĩa chính trị quan trọng mà nó còn là niềm tự hào mỗi khi nhắc đến bởi chiều dài văn hóa hàng nghìn năm lịch sử. Nơi đây được phát hiện có 2 di chỉ là Hang Phai Vệ 1 và hang Phai Vệ 2. Hang Phai Vệ 1 có niên đại cách đây khoảng 10.000 năm, hang Phai Vệ 2 có niên đại khoảng 4.700 ~ 5000 năm. Nhờ những đặc điểm đó mà nơi đây là một trong những trọng điểm phát triển ngành du lịch của tỉnh.

Đền Bắc Lệ

Đền Bắc Lệ là một quần thể di tích nằm trên một quả đồi giữa khu Nam của Phố Bắc Lệ, thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác thời gian ra đời của một ngôi đền, song căn cứ vào hai văn bia còn (1919 và 1933) đền Bắc Lệ từ đầu thế kỷ XX đến nay đã trải qua 5 lần tu sửa tôn tạo. Theo văn bia khắc năm Khải Định thứ 4 (1919) thì trước đó đền chỉ là một am thờ nhỏ, hay bị hỏa hoạn, sau đó nhân dân đã cung tiến xây dựng thành một ngôi nhà 3 gian gồm 3 cung: Đệ Nhất – Đệ Nhị – Đệ Tam (cung cấm) ngôi đền mang bóng dáng nghệ thuật kiến trúc điêu khắc Trung quốc. Trong đợt sửa chữa lần 2 (1933) và lần 3 (1940) ngôi nhà 3 gian cũ được quay lại và xay thêm cung Đệ Tam ở phía sau. Một cổng Tam quan to cao được xây dựng ở phía ngoài Tam cấp lên đền. Sau đó do các điều kiện, nguyên nhân khác đền Bắc Lệ còn qua một số lần sửa chữa.

Tuy trải qua nhiều lần tu bổ, nhưng ngôi đền hiện nay vẫn giữ được dáng vẻ cổ truyền, diện mạo đền hiện nay ngoài đền chính còn có một số gian thờ khác, bên phía mặt tiền của đền là một gian nhà nhỏ khoảng 10m², thờ Chầu Bé Bắc Lệ, phái trước bên trái phía Đông Bắc của mặt chính diện đền có một bàn thời Ngũ Hổ ngoài trời. Đền chính vẫn nằm trên vị trí cũ, đó là một dãy nhà 3 gian xây bằng gạch lợp ngói tây, cột gỗ, ba gian nhà này đồng thời là 3 cung, diện tích 126m².

Mặc dù đã bị thất lạc nhiều song đền vẫn giữ được một số di vật cổ và thêm các hiện vật mới được cung tiến. Hiện nay đền có 19 pho tượng lớn nhỏ chủ yếu bằng chất liệu gỗ, nhiều y môn sặc sỡ treo trên các lối đi có hai văn bia và nhiều hoành phi câu đối.

Cũng giống như bất kỳ một đền thờ Mẫu nào đền Bắc Lệ thời Công Đồng, Tứ Phủ, thờ tất cả các vị Chư Linh ở bốn miền Vũ Trụ, thế nhưng ở đây đặc biệt coi trọng các vị thần linh gắn liền với địa phương như Mẫu Thượng Ngàn, Chầu Bé, Cô Bé… những vị thần cung cấp ban phát của cải vô biên nơi núi rừng cho con người, và trở thành biểu tượng của sự sống vĩnh hằng. Chầu Bé theo quan niệm của người dân ở đây, vốn là người có thật quê quán ở Bắc Lệ. Tại đây Chầu Bé có thể thay mặt Mẫu để thực hiện các ý đồ sáng tạo của các Mẫu.

Bên cạnh Trung tâm là Mẫu còn có các thần linh hóa thân của Mẫu như Ngũ Vị Tôn Ông, Tứ Phủ Chầu Bà, Tứ Phủ Quan Hoàn, Cô, Cậu.. được thể hiện qua việc bài di tích.

Lễ hội chính của đền Bắc Lệ được tổ chức vào ngày 20 tháng 9 âm lịch hàng năm. Việc tế lễ, rước sách tổ chức rất linh đình, thu hút một số lượng đông đảo người dân tham dự.

Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn

Nhà thờ chính tòa Lạng Sơn và Cao Bằng hay còn gọi là Nhà thờ Cửa Nam là một nhà thờ lớn tọa lạc tại Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đây là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng.

Kiến trúc Nhà thờ chính tòa Lạng Sơn Cao Bằng mới được kết hợp giữa kiểu nhà sàn các dân tộc Miền núi phía Bắc và bộ mái cong kiểu cung đình Việt nam. Có diện tích chiều ngang 30 mét và 25 mét. Nhà thờ có hai mái bộ xếp lên nhau, mái trên tượng trưng cho Trời, mái dưới tượng trưng cho Con người, sàn móng vuông tượng trưng cho Ðất nghĩa là con người được hoà giải với Thiên Chúa, nhờ Ðức Giêsu Kitô qua Mầu Nhiệm Thập giá. Cây tháp chính năm tầng được xây dựng liền với tiền sảnh nhà thờ ngụ ý nói đến Mầu nhiệm Năm Sự Sáng và năm yếu tố tổng hợp của vũ trụ quan Ðông phương là Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ.

 

Ngày 30 tháng 12 năm 1913, Thánh Bộ Truyền giáo chính thức ra sắc dụ trao cho Tỉnh dòng Đa Minh Lyon coi sóc vùng Lạng Sơn – Cao Bằng. Theo Sắc lệnh Tông tòa, Phủ doãn Tông tòa Lạng Sơn gồm hai tỉnh Cao Bằng – Lạng Sơn và một phần đất tỉnh Hà Giang (phía Đông sông Lô), ngai Tông tòa và nhà thờ chính được đặt gần ga Lạng Sơn.

Những năm tháng chiến tranh đã gây nhiều thiệt hại nặng nề, nhà thờ chính toà bị sụp đổ vào năm 1969, chỉ còn lại ngọn tháp trơ trọi loang lổ. Đến năm 1979 trong chiến tranh biên giới Việt – Trung, cây tháp ấy cũng bị san bằng.

Vào năm 2004, giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã làm lễ cung hiến Nhà thờ chính tòa mới với tước hiệu Thánh Đaminh. Trong dịp này ông nói: “Chính tòa là giáo xứ Mẹ của các giáo xứ trong giáo phận. Nhà thờ chính toà là nhà thờ Mẹ, trung tâm đời sống phụng tự của giáo phận, nơi hội tụ của Giáo hội địa phương, như anh chị em thấy rõ trong các dịp lễ lớn. Ngôi nhà thờ chính toà là dấu chỉ Giáo hội hữu hình của Chúa Kitô tại trần gian”.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!