READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại H...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Hưng Yên

Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà Nội 64 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía Đông. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây và tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây nam giáp tỉnh Hà Nam. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng thủ đô Hà Nội.

Hưng Yên là vùng đất Địa Linh Nhân Kiệt, luôn đóng góp bậc hiền tài cho đất nước ở môi thời đại. Tỉnh có 4 trạng nguyên trên tổng số 53 trạng nguyên của cả nước. Hiện tại Văn miếu Xích Đằng còn lưu trên bia đá tên hàng trăm tiến sĩ khoa bảng của tỉnh trong các thời kỳ phong kiến.
Một số câu ca dao tiêu biểu cho địa phương trong tỉnh:

Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến
Dù ai buôn bắc bán đông,
Đố ai quên được nhãn lồng Hưng Yên

Oai oái như phủ Khoái xin ăn
Chè Yên Thái, gái Tiên Lữ
Nát như tương Bần

Ngoài ra còn có các thể loại hát chèo, hát ả đào,…nói về kiến trúc đẹp tại Hưng Yên thì có rất nhiều công trình có kiến trúc lâu đời và độc đáo bật nhất Việt Nam. Mời các bạn tham khảo một số công trình có kiến trúc đặc trưng dưới đây nhé!

Đền Trần

Đền Trần tọa lạc trên đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, Thành phố Hưng Yên . Ngôi đền là nơi tôn thờ vị anh hùng của dân tộc Việt Nam Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn, với những chiến công vang dội 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ XIII mà tên tuổi còn lưu danh tới muôn đời sau.

Đền có kiến trúc kiểu chữ Tam gồm 3 tòa: Đại bái, Trung từ và Hậu cung. Từ ngoài vào là Nghi môn được xây dựng kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, gồm 3 cửa, cửa vòm cuốn, mái lợp ngói giả ống, trên có đắp 4 chữ ” Kiếm Khí Đấu Quang” có nghĩa là (Tinh thần yêu nước tỏa sáng), phía dưới đề “Trần Đại Vương Từ” ( Đền Trần Đại Vương).

Tòa đại bái gồm 5 gian lợp ngói vảy rồng, trên bờ nóc chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt, tả hữu đắp nổi hoa văn chữ triện. Phần kết cấu gỗ theo kiểu ” chồng rường đấu sen”, được chạm hình đầu rồng cách điệu, cột cái và cột quân được kê trên những chân đá tảng tạo cho di tích thêm phần uy linh và vững chắc.

Tiếp đến là trung từ có lối kiến trúc bào trơn đóng bén, giữa tòa đặt một sập thờ chân quỳ dạ cá, sơn son thếp vàng, bốn mặt sập chạm lưỡng long chầu hổ phù, giữa chạm long mã chầu nguyệt. Tại đây đặt khám thờ Yết Kiêu và Dã Tượng là hai vị “trung quân ái quốc” thời Trần.

Giáp với Trung từ là 3 gian Hậu cung, thờ Trần Hưng Đạo và toàn bộ gia thất của ông. Tại đây đặt 6 bệ thờ: Nam Tào Bắc Đẩu, Trần Hưng Đạo, Phu nhân, Vương mẫu, Vương phi, và nhị vị phu nhân. Bên ngoài là bệ thờ vọng mũ áo con rể của ông, là tướng quân Phạm Ngũ Lão (được thờ chính tại đền Phù Ủng, 0xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên).

Năm 1992, đền Trần được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Hàng năm lễ hội được tổ chức vào ngày 20/8 và ngày 8/3 âm lịch, để tưởng nhớ đến ngày mất và ngày chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông.

Nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, nơi quy tụ uy linh của trời đất, đền Trần là nơi gửi gắm ước vọng, tinh thần yêu nước nồng nàn của người dân bản địa và du khách thập phương.

Đền Mẫu Hưng Yên

Đền Mẫu ở Hưng Yên là nơi thu hút đông đảo du khách bốn phương đến cầu cúng mỗi năm. Ngôi đền linh thiêng này không lúc nào thôi nghi ngút khói hương những dịp Tết đến xuân về, đặc biệt trong năm mới Giáp Ngọ này lượng khách đến viếng thăm, dâng hương càng đông.

Quan niệm thờ cúng gia Tiên, đi chùa đầu năm lễ Phật mong được sức khỏe, bình an, làm ăn phát đạt, sự nghiệp tiến tới,.. dường như là một niềm tin đã tồn tại trong tiềm thức của những người dân phương Đông, trong đó có Việt Nam. Những ngày đầu năm, ngoài việc thờ cúng Tổ Tiên, người Việt nô nức đi chùa cầu may, xin sức khỏe, bình an hay những dự định ấp ủ trong năm mới.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nghệ An

Đền Mẫu, hay còn gọi là Hoa Dương Linh Từ hoặc đền Mậu Dương thuộc địa phận thành phố Hưng Yên, nằm trong khu di tích phố Hiến.

Ngôi đền thờ bà Dương Quý Phi nguyên là vợ vua Tống thời xưa nổi tiếng linh thiêng này tọa lạc ngay bên bờ hồ Bán Nguyệt, đây cũng là điểm thu hút du khách đến đạp vịt hay thưởng ngoạn vẻ độc đáo của hồ nước xanh trong.

Được xây dựng từ thời vua Trần Nhân Tông tuy đã qua các thời kì tu sửa nhưng đến đền Mẫu, du khách vẫn được hưởng trọn vẹn vẻ lâu đời, cổ kính còn vương lại trên từng viên gạch, mái chùa hay những bức tượng. Tương truyền trong chùa còn có chiếc giường thiêng từng là nơi nghỉ ngơi của Dương Quý Phi.

Bước qua cánh cổng chùa, cây cổ thụ sừng sững với tán lá sanh mượt sum suê là điều đầu tiên du khách có thể thấy. Cây cổ thụ này đã ghi dấu những năm tháng hàng nghìn năm lịch sử tồn tại cùng ngôi chùa, ngay đến “thế” của cây cũng khiến không ít khách bốn phương trầm trồ.

Chùa Chuông

Chùa Chuông có tên chữ là Kim Chung Tự (金鍾寺) nằm tại thôn Nhân Dục, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên. Chùa Chuông nằm trong quần thể di tích Phố Hiến và được mệnh danh là “Phố Hiến đệ nhất danh thắng”.

Theo truyền thuyết vào một năm đại hồng thủy, có một quả chuông vàng trên một chiếc bè trôi vào bãi sông thuộc địa phận thôn Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xưa (nay thuộc phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên). Các nơi đua nhau kéo chuông về địa phương mình nhưng không được. Chỉ có những bô lão thôn Nhân Dục mới kéo được chuông. Dân làng cho là trời Phật giúp đỡ bèn góp công của dựng chùa, xây lầu treo chuông. Mỗi lần đánh chuông, tiếng vang xa hàng vạn dặm. Do vậy chùa có tên gọi là Kim Chung Tự (chùa chuông vàng), tên thường gọi là chùa Chuông.

Chùa Chuông có kết cấu kiểu “Nội công ngoại quốc”, bao gồm các hạng mục: Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và 2 dãy hành lang. Mặt tiền chùa quay hướng Nam, đó là hướng của “Bát Nhã” và “Trí Tuệ”. Chùa được bố trí cân xứng trên một trục trải dài từ cổng Tam quan đến Nhà tổ. Qua cổng Tam quan là tới ba nhịp cầu đá xanh, bắc ngang qua ao (mắt rồng), cây cầu được xây dựng năm 1702. Tiếp đến là con đường độc đạo được lát đá xanh dẫn thẳng đến nhà tiền đường, theo quan niệm nhà Phật là con đường chân chính dẫn dắt con người thoát khỏi bể khổ.

Nhà Tiền đường có quy mô năm gian hai chái, thiết kế kết cấu kiến trúc kiểu con chồng đấu sen. Nối giữa tiền đường và Thượng điện là khoảng sân, giữa sân có cây hương đá còn gọi là “Thạch trụ”, bốn mặt khắc chữ Hán ghi công đức của nhân dân đóng góp tu sửa chùa.

Thượng điện cũng gồm năm gian hai chái, kết cấu giống nhà Tiền đường, mang đậm nét kiến trúc thời Hậu Lê. Hệ thống tượng ở thượng điện được bài trí theo thứ tự: trên cùng là 3 pho Tam Thế; tiếp đến là A-di-đà và tứ Bồ-tát; lớp dưới là Văn Thù và Phổ Hiền; tiếp theo là Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu; tiếp nữa là Địa Tạng Vương và Phạm Thiên, Đế Thích; sau cùng là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh.

Ở hai đầu phía Đông và phía Tây nối nhà Tiền đường và nhà Mẫu là hai dãy hành lang, kiến trúc kiểu kèo cầu quá giang đơn giản. Hai dãy hành lang được bài trí đối xứng các lớp tượng khác nhau. Đầu tiên là động “Thập điện Diêm Vương”, diễn tả cảnh nhục hình mà con người phải trải qua nơi âm giới. Đây là triết lý nhân quả của nhà Phật, người ta tin rằng con người sống trên dương thế, khi từ giã cõi đời phải trải qua 10 cửa điện để Diêm Vương xét hỏi công và tội. Ứng với mỗi tội đồ là một hình phạt tương ứng. Tiếp đến là tượng Bát Bộ Kim Cương, sau đó là 18 pho “Thập Bát La Hán”, 18 vị được tạo tác trong tư thế ngồi rất sinh động, rất đời thường. Nét độc đáo của tượng “Thập Bát La Hán” không phải chỉ ở sự khéo léo trong cách tạo tác mà còn ở cảm xúc nội tâm được biểu hiện qua từng khuôn mặt buồn, vui, trầm tư… mỗi người một vẻ. Cuối dãy hành lang là tượng Đức Ông đứng cạnh có Già Lan – Chân Tể và tượng Đức Thánh Hiền, đứng cạnh có Diệm Nhiên – Đại Sĩ.

Đền Dầm

Đền Dầm là ngôi đền nằm trên địa phận thôn Xâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội, Việt Nam. Đền Dầm thuộc cụm di tích có ba ngôi đền nằm kề nhau là: Đền Lộ, Đền Sở và Đền Dầm, nằm ngoài đê sông Hồng và đều thờ nữ thần, Mẫu thần. Đền Dầm thờ Mẫu Đệ Tam Thoải Cung, một trong Tam Tòa Thánh Mẫu theo tâm thức của người Việt, bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên và Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn.

Đền rộng, kiến trúc cổ, cột gỗ và mái ngói cũ ngả màu thời gian cùng khuôn viên thoáng đãng.

Cổng Đền cao rộng, có ba cửa vào, sáu trụ xây, trên đắp nghê chầu, hoa văn, câu đối tỉ mỉ, tường đắp long mã, nhưng vắng nét cổ xưa. Vôi quét màu vàng, nâu theo lối bây giờ. Sân Đền khá rộng lát gạch. Bên trái chánh điện có gốc đa cổ thụ, theo tài liệu đã 800 năm. Gốc đa có nhiều rễ phụ biến thành gốc như cây đa Tây Thiên.

Chánh điện là một nếp nhà dài, mái ngói vảy cá thô dày (vảy cá xưa mỏng thanh hơn), cột gỗ sơn nâu, năm bậc cấp lên chánh điện láng xi măng. Trong Đền các hương án, bàn thờ đều chạm trổ rất công phu và đều sơn son thếp vàng.

Công chúa Hoàng Long đầu thai đày xuống thủy cung làm con vua Thủy Tề vì làm vỡ chén ngọc được chàng Liễu Nghị giải oan. Để trả ơn, nàng đã hiện về báo mộng giúp Trần Hưng Đạo đánh thắng giặc ngoại xâm và được vua Trần Nhân Tông phong thần, có chiếu chỉ cho nhân dân đời đời thờ phụng.

Đền hiện nay có 7 sắc phong. Đền có Cổ lầu là một tòa nhà cổ hai tầng, mái hình lục giác; có Nghinh môn với 6 trụ lực lưỡng, uy nghiêm.

Văn Miếu Xích Đằng

Văn miếu Xích Đằng hay còn gọi là Văn miếu Hưng Yên là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến. Văn miếu Xích Đằng là văn miếu thuộc hàng tỉnh, được thi công xây dựng vào năm 1832, hiện tại thuộc địa phận thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Văn miếu Hưng Yên được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử năm 1992.

Văn miếu Xích Đằng có tên như vậy vì được xây dựng trên đất làng Xích Đằng, xưa kia là văn miếu của trấn Sơn Nam căn cứ vào khánh, chuông còn lại ở văn miếu.

Văn miếu Xích Đằng được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ XVII và được trùng tu, tôn tạo lớn vào năm Minh Mạng thứ 20 (Kỉ Hợi – 1839) trên nền của chùa làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động xưa, nay là phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 tháp đá: Phương Trượng tháp và Tịnh Mãn tháp.

Mặt tiền Văn miếu quay hướng Nam, nghi môn được xây dựng đồ sộ, bề thế, mang dáng dấp cổng Văn miếu Hà Nội.

Phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông và lầu khánh cùng 2 dãy tả vu, hữu vu. Hai dãy này hiện nay được dùng để trưng bày các hình ảnh và hiện vật liên quan đến giáo dục của tỉnh Hưng Yên.

Khu nội tự có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam (三), bao gồm: tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn. Toàn bộ khu nội tự Văn miếu tỏa sáng bởi hệ thống đại tự, câu đối, cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim.

Hệ thống mái của các tòa được làm liên hoàn kiểu “Trùng thiềm điệp ốc”.

Đền Chữ Đồng Tử

Đền thờ Chử Đồng Tử có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam. Tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên, cách Hà Nội chừng 25km theo đê sông Hồng, có hai ngôi đền thờ Đức thánh Chử Đồng Tử, một ngôi đền nằm ở địa phận thôn Đa Hoà, xã Bình Minh, bên dòng sông Hồng nhìn ra bãi Tự Nhiên nơi nàng công chúa Tiên Dung xinh đẹp, con gái vua Hùng thứ 18 kỳ ngộ và nên duyên với chàng Chử nghèo khó; ngôi đền thứ hai thuộc địa phận thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, nơi chàng Chử cùng nhị vị phu nhân hoá về trời.

Tuy hai ngôi đền đều thờ đức thánh Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, kiểu dáng kiến trúc truyền thống nhưng có sự khác biệt đáng kể.

Ngôi đền Ða Hoà (được nhà nước xếp hạng di tích văn hoá năm 1962) nằm trên một khu đất cao, rộng, bằng phẳng hình chữ nhật có diện tích 18.720m² , cảnh quan đẹp, mặt quay hướng chính tây nhìn thẳng sang bãi Tự Nhiên. Tổng thể kiến trúc có 18 ngôi nhà mái ngói cổ như 18 con thuyền mũi cong tượng trưng cho 18 đời vua Hùng.

Ngọ môn gồm 3 cửa. Cửa chính là toà nhà 3 gian cao rộng, trên đỉnh nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt (chỉ mở cửa vào đại lễ). Hai cửa bên để đón khách gần xa. Qua sân Ðại là đến Ðại tế, toà Thiêu hương, cung Ðệ Nhị, cung Ðệ Tam và cuối cùng là Hậu cung. Toà Thiêu hương có kiến trúc cao, thoáng, trang nghiêm. Các đầu đao, bờ nóc chạm trổ tinh vi, đắp gọt tỉ mỉ, màu sắc rực rỡ cùng nhiều hình trang trí khác như rồng, sư tử. Cửa võng ở cung Ðệ nhị đều được chạm hình chim phượng, hoa cúc mãn khai và các hoa quả được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Ðặc biệt các pho tượng đức thánh Chử Ðồng Tử và phu nhân được đúc bằng đồng rất đẹp.

Hiện nay đền Ða Hoà còn bảo tồn được nhiều di vật quý hiếm, trong đó có đôi lọ Bách thọ (một trăm chữ thọ không chữ nào giống chữ nào, khắc trên thành lọ bằng gốm), một cổ vật vô giá của dân tộc.

Đền Dạ Trạch nằm trong không gian thoáng đãng cạnh đầm Dạ Trạch (được nhà nước xếp hạng di tích năm 1989). Kết cấu chính từ ngoài vào trong gồm có lầu chuông, hồ bán nguyệt, qua sân là đến điện thờ gồm ba toà nhà. Toàn bộ nội, ngoại thất, kiến trúc ngôi đền toát lên nét cổ kính, linh thiêng.

Lễ hội Chử Đồng Tử được tổ chức từ ngày 10 đến 12 tháng hai âm lịch hàng năm ở cả hai ngôi đền này.

Đền Ghênh

Đền Ghênh nằm ở thôn Ngọc Quỳnh được xây dựng vào năm Ất Mùi (1115). Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, tên thường gọi là Lê Thị Khiết, sinh ngày mùng 7 tháng 3 năm 1044 (Giáp Thân) quê làng Thổ Lỗi (còn gọi là làng Ghênh Sủi), phủ Thuận An, sứ Kinh Bắc xưa, nay là thôn Ngọc Quỳnh, xã Như Quỳnh. Tuy xuất thân trong gia đình lao động, nhưng Bà đã sớm nổi tiếng là một người thông minh xinh đẹp.

Năm bà 18 tuổi, nhân vua Lý Thánh Tông đi tuần du qua vùng này, gặp bà đang làm cỏ ở nương dâu, qua đối đáp, thấy bà là người nết na thông minh xinh đẹp và hiền dịu, vua bèn đưa Bà về Thăng Long và phong làm Ỷ Lan phu nhân. Bà sinh cho nhà Vua hai hoàng nam là Lý Càn Đức và Lý Minh Nhân, sau này Lý Càn Đức nối ngôi Vua hiệu là Lý Nhân Tông. Vua phong cho Ỷ Lan Phu nhân là Thần phi và đổi tên làng từ Thổ Lỗi sang Siêu Loại. Bà là người phụ nữ duy nhất của đất nước đã hai lần nhiếp chính thay vua trị vì đất nước.

Đền Ghênh được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, chia làm ba phần gồm có chính tiền tế, bái đường và hậu cung, chính điện quay về hướng nam, nhìn xuống Tam giao thủy.

Từ phía xa đã nhìn thấy tam quan của đền được xây dựng theo kiến trúc cổ, đi vào trong sân đền có một phiến đá rất lớn để nhân dân đặt đồ tế lễ.

Toàn bộ ba tòa ở đền được xây dựng trên nền cao có 9 bậc lên xuống bằng đá hoa cương (gọi là cửu trùng) ở hai bên cửa lên xuống có hai phỗng đá quỳ khoanh tay, đánh dấu sự quy hàng của vua Chiêm Thành. Tiền tế là nơi tế lễ, biểu diễn văn nghệ trong những ngày lễ hội. Trong bái đường với những lễ khí lộng lẫy, còn treo những bức hoành phi câu đối cổ. Hai bên nhà tiền tế mới được xây dựng thêm hai dãy nhà để làm nơi đón tiếp khách thập phương đến dâng hương. Hậu cung còn bức đại tự: “Mẫu nghi thiên hạ” và đôi hàng câu đối cổ nói về công đức của Bà. Tượng của đức Thái Hậu Ỷ Lan được đặt trong long kiệu sơn son thiếp vàng có 6 vị nữ đứng hầu cùng nhiều đồ thờ bằng gỗ và gốm sứ.

Sau đền có hai giếng nước trong xanh quanh năm không bao giờ cạn gọi là mắt rồng, trên bờ có hai cây đa cổ thụ lớn nhất vùng gọi là mi rồng, bên phải đền có một cái ao to là nơi biểu diễn múa rối vào những ngày hội lớn. Chính giữa hai hồ nước là nhà điện Mẫu, thờ Tam tòa Thánh Mẫu, công đồng và hội đồng các quan.

Sát bên phải đền là chùa, trước cửa trồng cây hoa ngọc lan, tượng trưng cho tên của Bà. Cạnh cây hoa Ngọc Lan là mô hình tháp Kính Thiên được xây bằng đá. Đền còn có bia đá ghi lại những năm xây dựng, trùng tu tôn tạo đền.

Đền Ghênh là một công trình kiến trúc mang phong cách triều đại nhà Lý, là nơi lưu dấu ấn lịch sử của Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, một người phụ nữ tài đức vẹn toàn, một bậc mẫu nghi thiên hạ đã suốt đời vì dân, vì nước.

Chùa Đậu

Đền Đậu An thuộc thôn An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, nằm cách TP. Hưng Yên khoảng 12 km về phía đông bắc.

Đền được dựng theo phong cách kiến trúc đình, đền của vùng đồng bằng Bắc Bộ, thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Ngũ Lão Tiên ông cùng các vị Thiên tiên, Địa tiên. Theo thần tích lưu giữ tại đền, xưa kia, làng Chạ Xá (An Xá ngày nay) là một vùng đất sình lầy, hoang vu, có nhiều thú dữ. Vào năm thứ hai trước Công Nguyên, Ngọc Hoàng đã phái Thiên tiên, Địa tiên và Ngũ Lão Tiên ông xuống hạ giới hướng dẫn dân lành diệt thú dữ, khai phá vùng sình lầy này để trồng lúa nước, đồng thời dựng đền Thụy Ứng Quán (Quán điềm lành) để cầu Trời cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Để tưởng nhớ công ơn của Ngọc Hoàng, Ngũ Lão Tiên ông cùng các vị Thiên tiên, Địa tiên, người dân địa phương đã trùng tu, mở rộng đền thành đền Đậu An để thờ phụng các bậc tiền bối.

Đền hình chữ Đinh, tọa lạc trên thế đất hình rồng với diện tích khoảng 2,2ha, xung quanh có cây xanh, hồ nước tạo thành nơi Thủy tụ. Đền gồm 3 kiến trúc chính: đền Thượng (đền chính), đền Hội đồng và đền Thánh mẫu. Trong đó, đền Thượng là công trình kiến trúc đặc sắc hình chữ Đinh, gồm 3 tòa: Tiền tế, Thượng điện và Hậu cung. Phần lớn kiến trúc của đền được làm bằng gỗ lim, riêng hai cung Đệ nhất và Đệ nhị của tòa Thượng điện được xây dựng bằng đá tảng nguyên khối có chạm khắc họa tiết rồng, phượng tinh xảo.

Ngoài kiến trúc cổ kính, đặc sắc, đền Đậu An còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị nghệ thuật và tín ngưỡng, điển hình là: tòa tháp Cửu trùng cao 9 tầng bằng đất nung được xây dựng vào thời Lý – Trần với những hoạ tiết mang đậm văn hóa Chăm như: hình cánh sen, chim thần Gara… Đây là biểu tượng của chín tầng mây ở chốn Thiên Đàng, là nơi giao hòa giữa trời và đất, là con đường “thăng thiên, giáng trần” của Ngọc Hoàng Thượng đế và các vị tiên. Ngoài tòa tháp cổ, đền còn có nhang án (bệ hoa sen) bằng đất nung cũng được dựng vào thời Lý – Trần, chuông đồng niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35 (1774), khánh đá cổ thời Lê và hai tấm bia đá thời Lý, Nguyễn ghi lại thời điểm dựng đền và những người có công tôn tạo, trùng tu đền.

Cầu đá cổ

Không chỉ mang giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc độc đáo, chiếc cầu đá cổ hơn 200 năm tuổi của làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, được các nhà nghiên cứu di sản đánh giá là một công trình độc đáo còn nguyên vẹn chưa từng thấy ở bất cứ làng cổ nào của Đồng bằng sông Hồng.

Đi qua chiếc cổng làng rêu phong, cổ kính uy nghi như cổng một tòa thành chúng tôi đến cầu Nôm bắc ngang dòng sông Nguyệt Đức. Nằm giữa quần thể di tích cổ kính làng Nôm, cầu Nôm là điểm nhấn độc đáo mang lại sức hút đặc biệt cho không gian văn hóa thuần Việt của làng.

Cầu được làm hoàn toàn bằng đá. Mặt cầu rộng gần 2m, làm bằng đá xanh nguyên khối, gắn khít nhau. Những phiến đá lớn được các nghệ nhân dân gian đục đẽo rất công phu. Cầu xây 9 nhịp, theo quan niệm của người xưa số 9 tượng trưng cho sự may mắn…

Dầm cầu hình chữ nhật. Mặc dù bị rêu mốc và cây leo bám, nhưng những nét văn hoa cổ tinh tế của cầu vẫn rất dễ quan sát. Hai bên thành cầu còn hầu như nguyên vẹn các mỏm đá dầm cầu được chạm trổ vân mây cách điệu, một họa tiết thường sử dụng trang trí trong kiến trúc cổ, được tạo tác công phu, nghệ thuật, rất xảo diệu và cầu kỳ, trông như những cái đầu rồng của những thuyền rồng mà vua chúa ngày xưa hay dùng để đi du ngoạn vậy.

Chân cầu là những cột đá hình trụ, không đều nhau được đẽo thô để gác dầm cầu, đã bị xói mòn bởi thời gian, trở nên rêu phong, cổ kính.

Điểm đặc biệt của cây cầu còn là tính bền vững về kết cấu. Mặc dù mặt cầu, mố cầu và chân cầu chỉ gác lên nhau chứ không có vật liệu liên kết, nhưng trải qua thời gian hơn 200 năm mặt cầu vẫn phẳng, chắc chắn và vững chãi. Điều đó cho thấy trình độ thiết kế, gia công vật liệu và thi công cầu của những người thợ ngày xưa rất đáng nể phục.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Quảng Ninh

Các cụ cao niên của làng kể rằng, khi xưa cầu được làm bằng gỗ lim nhưng để thuận tiện cho giao thương vào chợ Nôm, sau cầu được xây dựng lại bằng đá. Trước đây còn có một cây gạo cổ to đẹp ở đầu cầu phía bên chùa Nôm, nhưng nay bị cụt ngọn vì gió bão, dù dân làng đã cố cứu nhưng cây chẳng còn nguyên vẹn…

Hơn hai thế kỷ đã qua, trải bao vật đổi sao dời, cây cầu vẫn vững chãi nối nhịp giao thương cho làng nghề đồng nát vang tiếng một thời và chứng kiến bao đổi thay của làng quê.

Ai về cầu đá làng Nôm
Mà xem phong cảnh nước non hữu tình
Hoặc: Đồng nát thì về cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha…

Nhà thờ Giáo Xứ Hưng Yên

Giáo xứ Hưng Yên tọa lạc ngay trung tâm thành phố Hưng Yên, cách Tòa giám mục Thái Bình khoảng 50 km về hướng Tây Bắc, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 55 km về hướng Đông Nam.

Nói đến Hưng Yên, chúng ta nhớ đến Phố Hiến. Tên gọi Phố Hiến lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XV, thời Vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Tuy nhiên, vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII, nơi đây mới là một thương cảng nổi tiếng, nằm trải dài dọc theo tả ngạn Sông Hồng. Phố Hiến là một trong những thủ phủ quan trọng của trấn Sơn Nam, bao gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Hưng Yên. Chính vì thế, Phố Hiến không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế mà còn là điểm quy tụ các nền văn hoá và tâm linh. Ngày nay, dấu chứng ấy vẫn còn thể hiện qua cácg thiết kế kiến trúc như Nhà thờ, Chùa, Đền, Miếu… Nhà Thờ Hưng Yên (Phố Hiến) vẫn giữ được dáng dấp và đường nét hoa văn của người Bồ Đào Nha.

Hưng Yên đón nhận Tin Mừng ngay từ thời Phố Hiến còn thịnh vượng. Khoảng giữa thế kỷ XVII, các Thừa sai theo tàu buôn của người Bồ Đào Nha cập bến Phốâ Hiến để vào miền Bắc nước ta. Các ngài đã thiết lập một nơi để đón tiếp và hướng dẫn các thừa sai đến sau (nơi đó là họ Nam Hoà thuộc xứ Tiên Chu, tiền thân của xứ Hưng Yên bây giờ).

Sau thời Văn Thân, khi đạo Chúa được tự do hoạt động, Giáo họ Nam Hòa được đổi thành Giáo họ Hưng Yên (1898) cho đúng với vị trí quan trọng của một họ đạo tỉnh lị. Lúc ấy họ giáo khá sầm uất, và thường có các linh mục lui tới. Sử ký địa phận Trung (1916) viết về xứ Tiên Chu: “Đấng nào coi sóc xứ này thì hay ở họ tỉnh cho được giúp bổn đạo mà lo việc quan, song họ Tiên Chu thì làm đầu xứ”.

Sau năm 1918, Đức Cha Phêrô Munagorri Trung – Giám mục Giáo phận Trung – đã ban sắc nâng họ Hưng yên lên giáo xứ. Khi trở thành giáo xứ, Hưng Yên đã nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Quan Thầy. Hiện nay, Hưng Yên có 5 họ lẻ: An Tảo, An Lợi, Đaminh, Hoàng Xá và Cao Phụ.

Trong thời kỳ cấm đạo, vì là tỉnh lỵ nên Hưng Yên có nhiều tín hữu bị giam cầm. Làng Bái Trang (gần tỉnh) đã trở thành pháp trường xử nhiều người bị bắt vì đạo. Giáo xứ Hưng Yên ngày nay là quê hương của thánh Tôma Ngô Túc Khuông và thánh Giuse Phạm Văn Túc ở họ Hoàng Xá (thời các ngài tử đạo thì thánh Ngô Túc Khuông thuộc xứ Tiên Chu, và thánh Phạm Văn Túc thuộc xứ Ngọc Đồng). Hưng Yên còn có 12 vị Hiền phúc tử đạo khác nữa, trong đó có một vị thuộc hàng nữ lưu can đảm.

Các cha coi sóc giáo xứ từ ngày thành lập đến nay: cha Cương, cha Khiêm, cha Thịnh, cha Sự, cha Tôma Nguyễn Tình, cha Tôma Trần Công Tính, cha Vinh sơn Phạm Văn Tuyên , cha Đaminh Bùi Ngọc Hải và từ 9/2014 là cha Giuse Nguyễn Văn Tuyên.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!