READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại H...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Hà Giang

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam. Tỉnh Hà Giang phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Về phía bắc, Hà Giang giáp châu tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp, có thể chia làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều. Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng do địa hình cao nên khí hậu Hà Giang mang nhiều sắc thái ôn đới. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp.Vùng thấp trong tỉnh gồm vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và Thành phố Hà Giang.

Hà Giang có nhiều núi non hùng vĩ, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2419 m) và ngọn Kiều Liêu Ti (2402m) là cao nhất. Về thực vật, Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều gỗ quý, và có tới 1000 loại cây dược liệu. Động vật có hổ, công, trĩ, tê tê, và nhiều loại chim thú phong phú khác.

Hà Giang là nơi có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của hơn 20 dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây. Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Hà Giang, du khách có thể thấy được những sản phẩm kết tinh từ truyền thống văn hóa độc đáo của người miền núi, đó là các loại khăn thêu, túi vải, áo váy với các loại hoa văn rực rỡ. Du khách sẽ tham dự những phiên chợ vùng cao đầy thơ mộng.

Cửa khẩu Thanh Thủy

Cửa khẩu Thanh Thủy là cửa khẩu quan trọng nhất và là cửa khẩu quốc tế duy nhất tại Hà Giang. Tháng 2/2014 cặp cửa khẩu Thanh Thủy – Thiên Bảo được nâng cấp lên Cửa khẩu quốc tế trên cơ sở ban đầu là một cửa khẩu Quốc gia.

Cửa khẩu Thanh Thủy thuộc địa phận xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, cách thành phố Hà Giang 22 km về phía Tây Bắc, đối diện với cửa khẩu Thiên Bảo (Tianbao), huyện Malipo, châu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

Trong 9 tháng đầu năm 2008, có 114.990 lượt người xuất cảnh và 28.356 lượt người nhập cảnh, 528 lượt xe ô tô Việt Nam xuất cảnh và, 2935 lượt xe ô tô Trung Quốc nhập cảnh.

Tổng kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều đạt 165 triệu USD. Hàng xuất khẩu chủ yếu qua cặp cửa khẩu Thanh Thủy – Tianbao là nhân hạt điều, quặng các loại, hoa quả tươi, hải sản khô… Hàng nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như điện năng, xe ô tô các loại, linh kiện ô tô tải, hoa quả tươi…

Dinh Vua Mèo (Dinh thự họ Vương)

Khu dinh thự của vua Mèo, tên dùng trong các văn bản là Dinh thự họ Vương, hay còn được gọi với tên Nhà Vương tọa lạc trong một thung lũng thuộc địa bàn xã Xà Phìn, huyện Đồng Văn, Hà Giang. Toàn bộ dinh thự vua Mèo có diện tích gần 3.000 m2, được khởi công vào năm 1919 và hoàn thành vào 9 năm sau đó tức 1928. Quá trình xây dựng tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương, tương đương 150 tỷ đồng ngày nay.

Vào ngày 23 tháng 7 năm 1993, Khu dinh thự đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào hạng di tích quốc gia.

Trước khi khởi công xây dựng, vua Mèo Vương Chính Đức đã sang Trung Quốc tìm thầy phong thủy sang Việt Nam đi qua khu vực 4 huyện nằm trong quyền cai quản của mình để chọn địa thế đất. Cuối cùng, Vương Chính Đức và thầy quyết định dừng chân tại thôn Xà Phìn, địa thế đất nằm giữa thung lũng Sà Phìn. Đặc biệt, ở nơi đây có một khối đất nổi lên cao như hình mui con rùa, tượng trưng cho thần kim quy. Nếu xây dựng dinh thự tại đây thì sự nghiệp của Vương Chính Đức sẽ thành về sau.

Dinh thự vua Mèo có ảnh hưởng kiến trúc của 3 nền văn hóa: Trung Quốc, người Mông và Pháp, do một người thợ quê gốc Nam Định thiết kế. Ngôi nhà có 4 nhà ngang, 6 nhà dọc, được chia thành tiền dinh, trung dinh và hậu dinh có 64 buồng được xây 2 tầng tường bằng đá xanh, mái vách bằng gỗ thông và ngói làm từ đất nung. Lối dẫn vào nhà được làm bằng những phiến đá hoa cương có chạm khắc nhiều hoa văn, mái nhà cong, uống lượn, mái cổng được làm bằng gỗ lợp ngói âm dương, trạm khắc tinh xảo, nhiều hoa văn.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nam Định

Khu Tiền dinh là nơi ở của lính canh, lính hộ vệ và nô tì. Trung dinh và Hậu dinh là nơi ở, làm việc của thành viên trong gia tộc họ Vương. Lúc ban đầu, toàn bộ gỗ được dùng trong ngôi nhà đều là gỗ thông đá. Nhưng kể từ khi trở thành tài sản của Nhà nước, tất cả các vật liệu gỗ của ngôi nhà đã bị thay đổi khoảng 60% bằng gỗ lim và gỗ nghiến.

Phía ngoài gian chính giữa có treo một bức hoành phi bằng chữ Hán do vua nhà Nguyễn Khải Định phong tặng vua Mèo “Biên chính khả phong”.

Tường bảo về bên ngoài được xây cao vút, có quân lính bảo vệ nên khó có thể đột nhập từ bên ngoài, cách mỗi đoạn tường lại được bố trí các lỗ châu mai và chòi canh để bảo đảm sự an toàn cho cả khu dinh thự. Phía sau dinh thự có một bể chứa nước rất lớn có thể tích 300 m3 được xây dựng toàn bộ bằng đá, thiết kế hứng nước mưa từ trên các dãy nhà xuống. Do nằm trong vùng thường xuyên khô hạn nên ngày nay chiếc bể nước này là nguồn cung cấp nước chính cho nhân dân ở Xà Phìn.

Đèo Mã Pí Lèng

Đèo Mã Pí Lèng (còn có âm đọc là Mã Pì Lèng, Mã Pỉ Lèng, Mả Pì Lèng) thuộc tỉnh Hà Giang là cung đường đèo hiểm trở dài khoảng 20 km vượt đỉnh Mã Pí Lèng, một đỉnh núi có độ cao khoảng 1.200m thuộc Cao nguyên Đồng Văn, nằm trên con đường mang tên Đường Hạnh Phúc nối liền thành phố Hà Giang, Đồng Văn và thị trấn Mèo Vạc. Con đường dài khoảng 20 km này được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959-1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pí Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng centimet để làm trong 11 tháng.

Mã Pí Lèng được du khách gọi một cách không chính thống là một trong “tứ đại đỉnh đèo” tại vùng núi phía Bắc Việt Nam, bên cạnh Đèo Ô Quy Hồ, Đèo Khau Phạ và Đèo Pha Đin.

Mã Pí Lèng (马鼻梁) là tên gọi theo tiếng Quảng Đông chỉ sống mũi con ngựa theo nghĩa đen. Nhưng theo nghĩa bóng tên gọi này chỉ sự hiểm trở bậc nhất của đỉnh núi, nơi những con ngựa cái leo lên đến đỉnh trụy thai mà chết, nơi dốc cao đến mức con ngựa đi qua phải tắt thở, hoặc đỉnh núi dựng đứng như sống mũi con ngựa. Tuy nhiên, theo một số người Hmong bản địa thì tên đúng của đèo là Máo Pì Lèng, nghĩa là “sống mũi con mèo”.

Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ lên thăm cung đường đèo hùng vĩ này như Xuân Diệu, Nguyên Ngọc v.v., và những ấn tượng khó phai đã đọng thành cảm hứng trong sáng tác của họ. Đáng chú ý nhất là Tùy bút Mỏm Lũng Cú tột Bắc của nhà văn Nguyễn Tuân. Trong tác phẩm này, về quá trình mở đèo Mã Pí Lèng, Nguyễn Tuân đã viết: Cả quãng Đồng Văn-Mèo Vạc 24 cây số đường núi đá này phải làm mất một năm rưỡi, nhưng riêng chỗ dốc Mã Pí Lèng thì phải tốn mất 11 tháng treo mình trên vách đá để đục, bổ đá khắc đá ra mà cấn mặt đường vào vách đá đứng thành vại.

Năm 1964, nhà thơ Nguyễn Hải Trừng khi đứng trước sắc cảnh dữ dằn, khốc liệt của Mã Pí Lèng đã viết:

Y chu choa! Nguy ôi! Cao thay…
Mây đạp dưới chân, trời đụng trán…

Đèo Mã Pí Lèng nói riêng và đường Hạnh Phúc nói chung, theo Đỗ Doãn Hoàng trong bài viết Kỳ tích Mã Pí Lèng đã dẫn ở trên: trong lịch sử làm đường của Việt Nam, có lẽ đó là con đường thi công hoàn toàn bằng sức người gian khổ nhất; vượt qua cao nguyên cao nhất; chiếm số ngày công lao động nhiều nhất; thời gian lâu nhất; và cũng bi tráng nhất (khi con đường hoàn thành, phải có một nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống).

Chiêu Lầu Thi

Nếu là người yêu thích độ cao, mê những cung đường offroad của vùng núi cao phía Bắc Việt Nam, thì bạn không thể không mê mẩn Chiêu Lầu Thi – một địa danh còn khá xa lạ với kể cả dân xê dịch miền Bắc. Nẳm ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Sù Phì, tỉnh Hà Giang – tỉnh được coi là địa đầu Tổ Quốc với những cảnh đẹp và kỳ quan hùng vĩ của tạo hóa, Chiêu Lầu Thi cũng là một phần quan trọng đưa Hà Giang đến với những tâm hồn yêu mạo hiểm, khám phá trên khắp các nẻo đường đất nước.

Đỉnh Chiêu Lầu Thi cao hơn 2400 met, là đỉnh núi cao thứ hai của Hà Giang, quanh năm chủ yếu là sương giăng, gió buốt, đường đèo dốc chênh vênh bên những dãy núi đá nối tiếp nhau. Không phải đơn giản mà tới được đây, nói không ngoa thì trekking còn dễ hơn là chạy xe offroad, nhưng những gì mà con đường dài 27 km nối xã Hồ Thầu và xã Nàng Đôn (Hoàng Su Phì) mang lại cho bạn thì không gì tả nổi.

Mà không chỉ có 27km ấy mới khiến bạn phấn khích, một chuyến đi từ Hà Nội vòng quanh các điểm đến từ Hà Giang cho tới Lào Cai sẽ khiến hành trình ấy trọn vẹn hơn rất nhiều. Tất nhiên, bạn cần một hành trang kỹ lưỡng, cần tay lái vững vàng, cần những người bạn đồng hành tin tưởng, và cần nhất trái tim luôn hướng đến mọi miền Tổ quốc trước khi bước chân vào hành trình này.

Khoảng 3 ngày cho hành trình lên “Chín tầng mây” có lẽ là vừa đủ, đủ để bạn trải nghiệm những cung đường, và đủ để gây nhớ thương cho bước chân hối thúc quay lại những lần tiếp theo.

Cột cờ Lũng Cú

Cột cờ Lũng Cú là một cột cờ quốc gia nằm ở đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) có độ cao khoảng 1.470 m so với mực nước biển, thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nơi điểm cực Bắc của Việt Nam.Từ trên đỉnh cột cờ nhìn xuống đất có 02 ao nước hai bên núi quanh năm không bao giờ cạn nước được gọi là mắt rồng, là nguồn nước cho người dân tộc hai bản sử dụng.

Cột cờ Lũng Cú có lịch sử rất lâu đời, trải qua nhiều lần phục dựng, tôn tạo. Cột cờ mới hình bát giác có độ cao trên 30m được khánh thành ngày 25 tháng 9 năm 2010.

Cột cờ Lũng Cú nằm trên đỉnh Lũng Cú có độ cao khoảng 1.470 m so với mực nước biển. Đây là một điểm nhỏ trên đoạn đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Nếu mô phỏng một cách tương đối hình dạng đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc thành một chóp nón thì hai điểm thấp nhất theo vĩ độ là A pa Chải, Điện Biên và Sa Vĩ, Móng Cái, còn Lũng Cú là đỉnh của chóp nón này cũng là điểm cao nhất của cực Bắc Việt Nam.

Cảnh quan dưới chân cột cờ là núi non trùng điệp xen kẽ bởi những khoảnh ruộng bậc thang tạo nên một vẻ đẹp rất hoang dã, đặc trưng của vùng Tây Bắc địa đầu của Việt Nam.

Cột cờ Lũng Cú được thi công kxây dựng đầu tiên từ thời Lý Thường Kiệt và ban đầu chỉ làm bằng cây sa mộc. Cột được xây dựng lại từ thời Pháp thuộc, năm 1887. Những năm sau đó như 1992, 2000 và đặc biệt năm 2002 cột cờ tiếp tục được trùng tu hoặc xây dựng lại nhiều lần với kích thước, quy mô lớn dần theo thời gian, trong đó năm 2002 cột cờ được dựng với độ cao khoảng 20m, chân và bệ cột có hình lục lăng và dưới chân cột là 6 phù điêu họa tiết bề mặt trống đồng Đông Sơn. Trên đỉnh cột là cán cờ cao 9m cắm quốc kỳ Việt Nam có chiều dài 9m, chiều rộng 6m và tổng diện tích rộng 54m², tượng trưng cho 54 dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam.

Hiện nay tại đồn biên phòng Lũng Cú có một trạm chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ lá cờ trên Cột cờ Lũng Cú này và hầu như cứ khoảng 1 tuần hoặc lâu nhất là 10 ngày cờ lại phải được thay mới, do sức gió trên đỉnh Lũng Cú rất mạnh khiến cờ dễ hư hỏng. Theo cán bộ của trạm, lúc nào trong trạm cũng có hàng chục lá cờ lớn cỡ 54m² để dự phòng.

Chùa Sùng Khánh

Chùa Sùng Khánh còn gọi là chùa làng Nùng, tọa lạc trên đỉnh một quả đồi ở bên bờ phải dòng sông Lô thuộc thôn Nùng, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, cách trung tâm thị xã Hà Giang 9km

Chùa cũ vốn là một công trình thờ Phật từ đời Trần quí hiếm trên miền Thượng du còn sót lại, khung đỡ được làm bằng gỗ, lợp lá, dựng vào năm 1356, nhưng đã bị đổ nát từ lâu. Ngôi chùa Sùng Khánh hiện nay được nhân dân nơi đây và người hành hương thập phương người góp công người góp của xây dựng vào năm 1989, tọa lạc trên nền ngôi chùa cũ nhưng nhỏ và thấp hơn.

Chùa Sùng Khánh có kiến trúc đơn giản, xây dựng theo hình chữ “Nhất”, chỉ gồm một gian chánh điện diện tích 26m2, cao 4.3 với một cửa chính và hai cửa phụ ở hai bên, vách gạch, lợp ngói có tường bao quanh.

Ngay cửa chính đi vào là nơi thờ Phật được xây dựng bệ để đặt một số đồ thờ. Phía trên bệ thờ treo một bức tranh có hình Phật bà Quan Âm thay cho tượng Phật. Tấm bia đá ở bên trái bệ thờ là di sản quí giá nhất của chùa Sùng Khánh nổi tiếng này, ghi công lao của những người đã có công xây dựng ngôi chùa tiêu biểu là; ông Nguyễn Ân là chú của một tù trưởng miền núi có công rất lớn trong việc tu tạo ngôi chùa, và dựng bia công đức vào tháng Giêng năm Bính Thân niên hiệu Thiệu Phong (1356).

Bia cao 0.90m, rộng 0.50m, trên bia có chạm khắc hình lưỡng long chầu Phật Bà Quan Âm, văn bia do Phụng Độc Học sinh, Thứ sử trực thư Tạ Thúc Ngao soạn vào tháng 3 năm 1367. Bên phải của bệ thờ treo quả chuông đúc vào năm trùng tu chùa, thời hậu Lê (1705). Chuông cao 0.90m, đường kính miệng chuông chạm khắc nhiều hoa văn tinh xảo. Hằng năm, đến ngày 3 và 4 tết bà con dân tộc trong vùng lân cận kéo về tụ hội vui xuân, các trò chơi được tổ chức vừa mang bản sắc dân tộc cổ truyền của dân địa phương như: ném còn, kéo co, vừa đan xen một số trò chơi thể thao hiện đại như: bóng đá, bóng chuyền.

Phố cổ Đồng Văn

Phố cổ Đồng Văn nằm ở thị trấn Đồng Văn, Đồng Văn, Hà Giang. Khu vực trung tâm thị trấn Đồng Văn xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Vân, tỉnh Tuyên Quang và có lịch sử phát triển về kiến trúc, văn hóa hàng trăm năm. Những năm 1880, khi chiếm đóng khu vực này, người Pháp đã có những quy hoạch và để lại những điểm nhấn quan trọng về tư vấn quy hoạch và kiến trúc, đặc biệt là chợ Đồng Văn, xây bằng đá trong những năm 1920 gần như còn nguyên vẹn đến ngày nay.

Thị trấn Đồng Văn nằm lọt thỏm giữa thung lũng với bốn bề núi đá bao bọc xung quanh. Khu phố cổ vẻn vẹn 40 nóc nhà nằm xếp vào nhau dưới núi đá. Buổi sớm, bức tranh phố cổ là sự pha trộn đến tài tình hai tông màu: màu vàng rực của nắng và màu xám của những ngôi nhà cổ.

Khu phố cổ được hình thành từ đầu thế kỷ 20, ban sơ chỉ có vài gia đình người Mông, người Tày và người Hoa sinh sống, dần dần có thêm nhiều cư dân địa phương khác tìm đến. Nhìn tổng thể, khu phố cổ mang đậm dấu ấn thiết kế kiến trúc của người Hoa với những ngôi nhà hai tầng lợp ngói âm dương, những chiếc đèn lồng đỏ cao cao…

Đêm đến ánh đèn dầu từ mỗi chiếc bàn chỉ đủ soi lờ mờ. Trong không gian ấy đôi khi có tiếng kèn môi của chàng trai Mông trong giai điệu gọi bạn tình. Vào đêm cuối tuần, quán lại rộn ràng với những chàng trai, cô gái từ các bản được chủ quán mời về hát những bài dân ca, thể hiện những điệu múa giao duyên…

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Bạc Liêu

Từ trên cao nhìn xuống, bên ba dãy chợ xếp thành hình chữ U lợp ngói âm dương là hai dãy phố cổ chạy vào chân núi. Một khu dân cư chủ yếu là người Tày với hàng chục ngôi nhà cũ dựng bởi những người thợ ở Tứ Xuyên sang làm thuê và được xem như một phần quan trọng của phố cổ Đồng Văn. Theo tài liệu từ một cuộc hội thảo về phố cổ Đồng Văn thì tại khu vực này còn khoảng trên dưới 40 ngôi nhà cổ có tuổi đời trên dưới 100 năm, cá biệt có những ngôi nhà gần 200 năm như nhà ông Lương Huy Ngò, người Tày và được xây dựng từ khoảng năm 1860.

Kiến trúc ở đây phổ biến là nhà hai tầng trình tường, lợp ngói âm dương. Riêng khu vực chợ Đồng Văn, còn có nhiều nhà cổ kiểu ống để tận dụng mặt tiền như phố cổ Hà Nội. Từ năm 2006, huyện Đồng Văn đã tổ chức mỗi tháng 3 “đêm phố cổ” vào các ngày 14, 15, 16 âm lịch. Theo đó các hộ dân trong khu phố cổ đồng loạt treo đèn lồng đỏ, một số hoạt động như trưng bày thổ cẩm các dân tộc, trình diễn và bán các món ăn truyền thống của các dân tộc với kỳ vọng thu hút khách du lịch theo kiểu một phố cổ Hội An.

Nhà thờ Thánh Tâm 

Mảnh đất Hà Giang được chia làm 3 Giáo Phận: Giáo Phận Hưng Hóa, Giáo Phận Bắc Ninh và Giáo Phận Lạng Sơn – Cao Bằng. Trong đó Giáo xứ Thánh Tâm – Hà Giang thuộc Giáo Phận Lạng Sơn – Cao Bằng.

Năm 1998 Đức Cha Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến, Giám Mục Giáo Phận Bắc Ninh đã đến thăm nhà thờ Bạch Xa, huyện Hàm Yên, Tỉnh Tuyên Quang. Và Ngài được biết Hà Giang còn rất nhiều giáo dân đang trông ngóng các cha lên xây dựng họ giáo.

 

Từ năm 2007 đến tháng 6/2011, Giáo họ Thánh Tâm chỉ các ngày lễ trọng thì mới được các cha từ Lạng Sơn đến dâng lễ. Cha Phaolô Nguyễn Văn Thảo, chánh xứ Cửa Năm đã được Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt cử đến phụ trách Giáo họ Thánh Tâm. Sau này, Đức Cha Giuse Đặng Đức Ngân cử cha Phaolô làm cha xứ không thường trực ở giáo họ Thánh Tâm. Cha thường xuyên qua lại hoặc bận công việc thì cha nhờ các cha khác sang giúp cho Giáo họ Thánh Tâm trong các ngày lễ trọng.

Đến nay, Giáo xứ Thánh Tâm Hà Giang đã có một ngôi nhà thờ đẹp lộng lẫy. Thánh đường tọa lạc trên một địa thế uy nghi. Hy vọng trong tương lai: số gia đình và số nhân danh trong giáo xứ ngày càng phát triển và nếp sống đạo ngày càng vững vàng, sâu sắc.

Đây là kết quả của công cuộc truyền giáo tại Giáo xứ Thánh Tâm. Công cuộc này được quý Đức Cha và quý cha ưu ái, nâng đỡ, cùng với sự cộng tác nhiệt tình của ban hành giáo Giáo xứ Thánh Tâm, quý dì, quý thầy trong suốt 12 năm qua.

Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria và thánh Vinh Sơn ban nhiều hồng ân cho vùng đất truyền giáo này.

Phán Quan tổng hợp

Chia sẻ bài viết Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestShare on VKTweet about this on TwitterEmail this to someoneShare on YummlyShare on TumblrShare on LinkedInPrint this page

Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!