READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Đ...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì miền nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh) có diện tích lớn thứ nhì ở miền đông (sau Tỉnh Bình Phước) và thứ ba ở miền nam (sau Tỉnh Bình Phước và Tỉnh Kiên Giang). Đồng Nai có thành phố Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước. Dân số Đồng Nai hiện nay đang đứng thứ 5 trong 63 tỉnh thành Việt Nam.

Đồng Nai từ lâu đời là một địa bàn sinh tụ và cư trú của nhiều dân tộc với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, có sự giao lưu và ảnh hưởng tôn giáo lẫn nhau.

Vào khai hoang lập ấp ở Đồng Nai, người Việt đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Ngoài văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo truyền thống được mang theo vào vùng đất mới, người Việt đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của các cộng đồng cư dân mà họ cùng sinh sống. Khi người phương Tây vào truyền giáo, họ lại tiếp nhận văn hóa Ki tô giáo. Do điều kiện lịch sử, địa lý nhân văn nên tín ngưỡng tôn giáo Đồng Nai không mang tính cổ điển mà được hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía tạo nên sắc thái riêng. Dù theo tôn giáo này hay tôn giáo khác thì truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ những người có công với dân, với nước, nhớ ơn nghĩa người xưa theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn” vẫn là truyền thống phổ biến nhất, sâu rộng nhất. Ngoài những nét đẹp về văn hóa, thì kiến trúc tại Đồng Nai có một nét đặc trưng xứng đáng để bạn dành thời gian tìm hiểu…!

Văn miếu Trấn Biên

Văn miếu Trấn Biên là văn miếu đầu tiên được xây dựng (xây năm 1715) tại xứ Đàng Trong, để tôn vinh Khổng Tử, các danh nhân văn hóa nước Việt và làm nơi đào tạo nhân tài phục vụ cho chế độ. Năm 1861, nơi thờ phụng trên đã bị thực dân Pháp phá bỏ. Mãi đến năm 1998, Văn miếu Trấn Biên mới được khởi công khôi phục lại nơi vị trí cũ, và hoàn thành vào năm 2002. Hiện nay toàn thể khu vực uy nghi, đẹp đẽ và quy mô này, tọa lạc tại khu đất rộng thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Đây là công trình được thi công xây dựng theo thiết kế kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, gồm các hạng mục: nhà thờ chính, tả vu hữu vu, sân hành lễ… thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trọng hiền tài.

Nổi bật giữa vùng không gian thoáng đãng, nhiều cây xanh, là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc (gốm tráng men). Từ Văn miếu môn lần lượt là nhà bia truyền thống Trấn Biên – Đồng Nai, Khuê Văn Các, hồ Tịnh Quang, cổng tam quan, nhà bia thứ hai thờ Khổng Tử và sau cùng là nhà thờ chính rộng lớn. Ở đây có tấm bia lớn có khắc dòng chữ to: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

Nhà thờ chính xây dựng kiểu nhà ba gian hai chái, theo kiến trúc cổ, sơn son thếp vàng, nền lát gạch tàu, trên các cột nhà treo đôi liễn đối, như:

Nguyễn Hữu Cảnh định nghiệp Trấn Biên,
Lớp lớp anh tài giang lục tỉnh.
Võ Trường Toản mở trường Gia Định,
Đời đời sĩ khí nối tam gia.

Ở gian giữa có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên tường có biểu tượng trống đồng tượng trưng cho nền văn hóa Việt Nam và Quốc Tổ Hùng Vương.

Bên trái nhà là nơi thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn,… bên phải thờ danh nhân đất Nam Bộ như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông…

Trong gian thờ này, đặc biệt có trưng bày 18 kg đất và 18 lít nước mang về từ đền Hùng, biểu trưng cho 18 đời vua Hùng, cội nguồn của dân tộc Việt.

Phía trước hai bên nhà thờ chính còn có hai ngôi miếu, miếu bên trái thờ Tiên sư, miếu bên phải thờ Tiền hiền-Hậu hiền. Phía trước hai bên nhà thờ chính: Là Văn Vật Khố (nơi trưng bày 4 làng nghề truyền thống của Biên Hòa – Đồng Nai: nghề đồng, nghề mộc, nghề đá, nghề gốm). Đăng đối hài hòa với Văn Vật khố là Thư khố – nơi trưng bày các thư tịch cổ, các tài liệu, sách báo… viết về lịch sử, văn hóa, con người vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai xưa và nay.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Bình Dương

Ngoài ra, nơi Văn miếu Trấn Biên còn có khu sinh hoạt truyền thống gồm có nhà truyền thống, bia truyền thống, và các công trình phụ cận. Bia truyền thống Trấn Biên–Đồng Nai khắc bài văn khái quát về truyền thống văn hóa, giáo dục của Biên Hòa xưa và nay. Nhà truyền thống chủ yếu dùng để trưng bày và ghi danh những đơn vị, cá nhân đạt được các danh hiệu cấp nhà nước.

Chùa cổ Bửu Phong

Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long, thuộc xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, gần khu du lịch Bửu Long. Chùa được dựng vào thế kỷ XVII.

Chùa Bửu Phong nằm trên ngọn núi Bửu Long, thuộc phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai. Chùa Bửu Phong là ngôi cổ tự rêu phong cổ kính, có những pho tượng với những nét điêu khắc đặc biệt Á Ðông. Bửu Long là ngọn núi thấp, qua 99 bậc đá là lên tới chùa.

Chùa được xây dựng vào năm 1679, theo hình chữ “tam” gồm chính điện, giảng đường, nhà thờ tổ, ngoài ra còn có nhiều phòng Ni phái và nhà dưỡng tăng. Trong chùa có những pho tượng mang nét đặc biệt Á Đông và nhiều cổ vật như cặp nai vàng đời Nguyễn, đầu “phường cổ”(Nhà Phật), tượng Phật nằm, tháp Bửu Phong rêu phong cổ kính và Xá Lợi – một báu vật nhà Phật. Xung quanh chùa có Long Đầu Thạch (còn gọi là Hàm Rồng, Hầm Hổ) và đài Tam Thế Phật, đã từng là hầm bí mật nuôi dấu cán bộ cách mạng hoạt động ven đô trong chiến tranh.

Lúc đầu chùa chỉ là thảo am nhỏ sau do Thiền sư Pháp Thông xây cất tôn nghiêm. Chùa được trùng tu mở rộng vào năm 1829 và các năm gần đây.

Bửu Phong là ngôi cổ tự do Hòa thượng Bửu Phong khai sơn vào thế kỷ 17.Lúc đầu chùa chỉ là thảo am nhỏ sau do Thiền sư Pháp Thông xây cất tôn nghiêm. Chùa được trùng tu mở rộng vào năm 1829 và các năm gần đây. Khách thập phương thường đến thăm chùa, bởi đây là ngôi cổ tự rêu phong cổ kính có những pho tượng với những nét điêu khắc đặc biệt Á Ðông.

Từ chân núi, du khách có thể đi bộ từ bậc tam cấp lên chùa hoặc nếu đi xe máy thì có đường đi thẳng lên. Chùa nằm giữa 1 rừng cây, có nhiều cây cổ thụ to. Bên trái chùa có đá Long Đầu cao sừng sững, bên phải chùa la liệt đá thiền sàn.

Cầu Ghềnh

Cầu Ghềnh (hay còn gọi là cầu Gành hoặc cầu Đồng Nai Lớn) là một chiếc cầu sắt bắc qua sông Đồng Nai, nối phường Bửu Hòa và xã Hiệp Hòa tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, phục vụ cho tuyến đường sắt Bắc – Nam thuộc khu gian Biên Hòa – Dĩ An tại lý trình 1699+860.

Đây là cây cầu do người Pháp xây dựng từ năm 1901 và khánh thành vào tháng 1 năm 1904 để dành đi chung cho giao thông đường bộ và đường sắt với hai phần bên hông dành cho xe hai bánh, ở giữa dành cho xe lửa và xe ôtô. Trong suốt hơn 100 năm tồn tại, cầu Ghềnh đã tạo thành dấu ấn đặc biệt cho mảnh đất lịch sử Đồng Nai và trở thành biểu tượng của thành phố Biên Hòa.

Năm 1901, quốc lộ 1 và đường sắt Sài Gòn – Nha Trang chạy qua tỉnh Biên Hòa được khởi công. Cùng năm đó, Pháp cho triển khai đào móng thi công cầu Ghềnh bắc qua mỏm tây của cù lao Phố. Đầu thế kỷ 20, quốc lộ 1 đi qua Biên Hòa khá hẹp, rộng khoảng 5m, được rải đá và cấp phối sơ sơ. Sở Trường Tiền được lập ra với nhiệm vụ làm đường, bắc cầu nhỏ và sửa chữa, bảo trì đường bộ.

Năm 1903, Cầu Rạch Cát và cầu Ghềnh do Hãng Eiffel (Pháp) thiết kế, chế tạo bắc ngang qua sông Đồng Nai làm xong. Ngày 14 tháng 1 năm 1904, cầu Ghềnh chính thức được khánh thành, giúp tuyến đường sắt nối liền Sài Gòn và Biên Hòa bắt đầu hoạt động. Đây được xem là công trình tầm cỡ ở xứ Nam Kỳ, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình lịch sử lúc bấy giờ. Không chỉ dành cho xe lửa qua lại, cầu còn là huyết mạch giao thông đường bộ của tuyến quốc lộ 1. Để hoàn thành chiếc cầu này, hàng ngàn phu cầu người Việt đã bỏ mạng lại dòng sông Đồng Nai do điều kiện lao động khắc nghiệt.

Trước năm 1993, chính quyền tỉnh Đồng Nai lại không được quyền quản lý cầu mặc dù cầu nằm trong địa phận của mình. Sau một vụ kẹt đường trên cầu khiến một lãnh đạo của tỉnh này suýt gặp tai nạn, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã kiên quyết kiến nghị với các đơn vị quản lý cầu Ghềnh là Khu Quản lý đường bộ VII (nay là Cục Quản lý đường bộ VII) và Cục Đường sắt Việt Nam về việc phân luồng giao thông qua cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát. Từ đó, mới xuất hiện đội ngũ gác cầu làm nhiệm vụ phân luồng giao thông, lập barie ngăn đường khi tàu lửa đi ngang.

Thiền Viện Thường Chiếu

Thường Chiếu là một trong những thiền viện đầu tiên thuộc hệ thống Trúc Lâm thiền viện do hòa thượng Thích Thanh Từ sáng lập, tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; đoạn cây số 76 – 77, quốc lộ 51.

Ngày nay thiền viện Thường Chiếu là một điểm tham quan mà du khách thường ghé tới trên đường từ TPHCM đi Vũng Tàu. Thường Chiếu là pháp danh một vị thiền sư nổi tiếng đời Lý, thuộc thế hệ thứ 12 của thiền phái Vô Ngôn Thông trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Thiền viện mang tên một danh tăng thời Lý. Thiền sư Thường Chiếu (? – 1203) họ Phạm, quê làng Phù Ninh. Ngài làm quan dưới triều vua Lý Cao Tông, sau từ quan, xuất gia ở chùa Tịnh Quả, thuộc đời thứ 12, dòng thiền Vô Ngôn Thông.

Trên một khu đất rộng 52 hecta do mẹ con bà Huỳnh Thị Nhơn cúng dường để xây dựng các tự viện ở Long Thành, Thiền viện Thường Chiếu có diện tích 13 hecta, do Hòa thượng Thích Thanh Từ sáng lập vào năm 1974.

Điện Phật thiền viện kiến lập năm 1986, tháp chuông dựng năm 1988. Thiền viện đã tổ chức trùng tu ngôi chánh điện khang trang vào năm 1994 dựa trên bản vẽ thiết kế của nhóm kiến trúc sư Đỗ Hữu Nam. Tường xây gạch, cột bê tông cốt thép giả gỗ, mái cổ lầu lợp ngói. Tượng đức Bổn sư Thích Ca tay cầm bông sen, biểu trưng niêm hoa vi tiếu, tôn trí ở án giữa Phật điện do nghệ nhân Minh Dung thực hiện. Thiền viện cho mở rộng tổ đường năm 1998.

Từ ngoài vào, các công trình xây dựng chính của thiền viện được bố trí như sau: Qua cổng tam quan là ngôi chánh điện và tổ đường. Trước chánh điện có lầu chuông và lầu trống; hai bên và phía sau có các công trình: Tăng đường, thư viện, tông môn tàng thư, trai đường, nhà khách, tăng thất, khu thiền thất, bệnh xá…

Đình Tân Lân

Đình Tân Lân toạ lạc trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền hướng Tây Nam, nhìn ra dòng sông Đồng Nai. Xưa kia đình thuộc thôn Tân Lân (Xóm Mới), huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên; nay là phường Hoà Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Ngày 23 tháng 10 năm 1720, Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên mất. Để ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai – Gia Định, nhân dân trong vùng đã lập ngôi miếu nhỏ thờ ông trong khu vực thành cổ Biên Hòa.

Ngày 14 tháng 12 năm 1861, theo kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa do tướng Bonard phê chuẩn, liên quân Pháp và Tây Ban Nha với khoảng một ngàn quân, hai hạm thuyền tiến đánh cả đường bộ và đường thủy. Sáng ngày 17, Pháp chiếm được tỉnh lỵ Biên Hoà, và kể từ đó ngôi miếu phải hai lần dời chuyển (năm 1861 và 1906), mới đến nơi hiện nay. Năm 1935, miếu được xây dựng mới kiên cố và đặt tên là Tân Lân thành cổ miếu (gọi tắt là Đình Tân Lân).

Đình Tân Lân toạ lạc nơi khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m², trên một nền cao 60 cm bằng đá xanh, lát gạch bông (20cm X 20 cm), với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Quốc. Mặt đình được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), lợp ngói âm dương, trên nóc chính điện có lưỡng long tranh châu, lý ngư hóa rồng. Trên hai đầu đao còn có tượng ông Nhật, bà Nguyệt, tiên đồng, ngọc nữ…

Đình gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông.

Phần Chánh điện chiếm diện tích 487,5m². Tượng Trần Thượng Xuyên uy nghiêm ngự trên ngai sơn son thếp vàng được đặt trang trọng giữa chánh điện. Nơi đây có những hàng cột gỗ lim to, những cặp chim trĩ, loan, phượng… bằng đồng đứng chầu, cùng bộ bát bửu cũng bằng đồng đặt thẳng hai bên hàng trước bàn thờ thần làm tăng thêm sự trang nghiêm. Ngoài ra, đình còn có tổ hợp thờ thần rất phong phú: thờ bà Thiên Hậu, thờ Quan Công, Tả Ban, Hữu Ban, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Bạch Mã Thái Giám, v.v…

Chùa Bửu Đức

Chùa Bửu Long tọa lạc ở số C61A, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa thuộc hệ phái Nam tông.

Chùa do Đại đức Thích Pháp Bửu thành lập vào năm 1971 trên một diện tích 4.000m2 do Phật tử Nguyễn Văn Lạc cúng dường. Thượng tọa Thích Giác Chánh thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông đã trùng tu ngôi chùa năm 1990, đúc tượng đức Phật Thích Ca cao 4m tôn trí ở chánh điện. Trên nóc chánh điện có 5 ngọn tháp, tháp giữa thờ Xá lợi Phật được xây theo kiểu tháp Xá lợi Sanchi ở Ấn Độ, còn gọi là Chánh Giác Như Lai. Bốn tháp còn lại là: Tháp Bồ tát Đản sanh, tháp Bồ tát thành Phật, tháp Phật chuyển pháp luân và tháp Phật nhập niết bàn.

Có dịp đến Đồng Nai, bạn không nên bỏ qua một chuyến tham quan, vãn cảnh Chùa Đức, để có thể tìm đến chốn thanh tịnh, xua tan đi mọi mệt mỏi, lo toan của cuộc sống và khám phá những nét đẹp về văn hóa, truyền thống nơi đây.

Đại chủng viện Xuân Lộc

Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc (tiếng Anh: Saint Joseph Seminary of Xuan Loc) là một trong 8 đại chủng viện tại Việt Nam, nơi đào tạo linh mục cho bốn giáo phận: Bà Rịa, Đà Lạt, Phan Thiết và Xuân Lộc của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Đại chủng viện tọa lạc tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, thuộc Giáo phận Xuân Lộc.

Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc ngày nay được Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập vào ngày 14 tháng 12 năm 2005. Trước đó, đại chủng viện này đã trải qua quá trình hình thành ở các giai đoạn:

Từ năm 1966 đến năm 1975 được mang tên “Tiểu chủng viện Thánh Phaolô” nhân việc thành lập Giáo phận Xuân Lộc vào năm 1966.

Từ năm 1975 đến năm1986, cùng với các chủng viện khác tại Việt Nam, Tiểu chủng viện Thánh Phaolô cũng bị chính quyền đóng cửa, không cho phép hoạt động đào tạo linh mục, giáo sĩ.

Từ năm 1986 đến năm 2005, các chủng viện ở Việt Nam được phép hoạt động trở lại. Công việc đào tạo linh mục ở giáo phận Xuân Lộc chuyển về cho Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Trong năm 1999, vấn đề mở cơ sở II tại Xuân Lộc của đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn được chính quyền chấp thuận, nhưng mãi đến năm 2005 mới khai giảng được niên khóa đầu tiên.

Chùa Bạch Liên

Là ngôi chùa có vườn tượng Phật lộ thiên lớn nhất Việt Nam, được khởi công xây dựng, trùng tu vào đầu năm 1996 và hoàn thành vào năm 1998 gồm 6 Phật cảnh: Phật đản sanh, Phật xuất gia, Phật khổ hạnh, Phật thành đạo, Chuyển pháp luân, Phật nhập Niết bàn, các tượng Phật được thiết kế rất hoành tráng và cân đối, hài hòa. Trong khuôn viên rộng rãi và thoáng mát, Bạch Liên Tự như làm bừng sáng lên cả một vùng bởi vẻ tinh sạch và thuần khiết: những con đường và những hàng cây nối dài và chạy vòng quanh. Trên những tán lá biếc xanh, từng đóa sứ trắng ngà tỏa hương nồng nàn.

Là ngôi chùa có vườn tượng Phật lộ thiên lớn nhất Việt Nam, được khởi công xây dựng, trùng tu vào đầu năm 1996 và hoàn thành vào năm 1998 gồm 6 Phật cảnh: Phật đản sanh, Phật xuất gia, Phật khổ hạnh, Phật thành đạo, Chuyển pháp luân, Phật nhập Niết bàn, các tượng Phật được thiết kế rất hoành tráng và cân đối, hài hòa. Trong khuôn viên rộng rãi và thoáng mát, Bạch Liên Tự như làm bừng sáng lên cả một vùng bởi vẻ tinh sạch và thuần khiết: những con đường và những hàng cây nối dài và chạy vòng quanh. Trên những tán lá biếc xanh, từng đóa sứ trắng ngà tỏa hương nồng nàn.

Ngày nay, Phật Tích Tòng Lâm được xưng tụng như là một trong những thắng cảnh của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Vào một ngày nắng ấm, bạn hãy hành hương về đây, trong không gian tràn đầy bóng cây râm mát của những tàng cổ thụ, bạn thử dạo theo dòng suối uốn quanh, nước trong xanh in bóng cảnh quan tuyệt đẹp và bầu trời khoáng đạt.

Chùa Bạch Liên toạ lạc tại ấp Thanh Nguyên, xã An Phước, huyện Long Thành, Đồng Nai. Đường đến chùa có thể đi theo Quốc lộ 51 (hướng từ Vũng Tàu về Biên Hoà), vượt qua thị trấn Long Thành khoảng 3km về hướng Bắc, nhìn sang đối diện xí nghiệp bò sữa An Phước bạn sẽ trông thấy cổng tam quan ghi bốn chữ “Phật Tích Tòng Lâm”. Theo con đường đất đỏ vào khoảng 300m thì tiếp cận với chùa Bạch Liên – một khu công trình với quần thể cụm chùa có nghệ thuật kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo. Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên và các mảng kiến trúc chùa phật tạo cho Bạch Liên nét đặc trưng hội đủ yếu tố của một quần thể nghệ thuật kiến trúc – danh thắng Phật giáo mang đậm phong cách Á Đông vừa cổ kính, vừa hiện đại nổi tiếng trong và ngoài tỉnh.

Khi kiến thiết xây dựng làng Phật Tích Tòng Lâm, tâm nguyện lớn nhất của Hoà thượng Thượng Nhựt Hạ Minh là chính ngay trên vùng đất này một trung tâm Phật giáo lớn của khu vực được hình thành và mở rộng nhằm đào tạo tăng, ni góp phần vào việc kế tục và phát triển mối đạo, xiển dương chánh pháp. Hai cơ sở để Hoà Thượng chọn nhằm thực hiện tâm nguyện là phát triển Phật Tích Tòng Lâm (Tăng giới) song song với việc duy trì và phát triển Quan Âm Ni Viện (Ni giới).

Nhà thờ Giáo xứ Thánh Tâm

Ngày 10.09.1954, Cha Giacôbê Đào Hữu Thọ (CSsR) cùng với khoảng 400 giáo dân từ Thái Hà Ấp, Giáo phận Hà Nội đến định cư lập nghiệp tại cây số 9 vùng đất Hố Nai, lấy tên là trại định cư Alphongsô và dựng một nhà nguyện tạm bằng vải bạt và gỗ làm nơi dâng lễ và cầu nguyện.

Một năm sau, Cha Giêrônimô Phạm Quang Tự kế nhiệm Cha Giacôbê phụ trách Giáo xứ. Cha Giêrônimô và bà con giáo dân xây dựng nhà thờ bằng gạch và mái tôn kích thước 30m x 40m để có nơi xứng đáng hơn thờ phượng Thiên Chúa. Từ đây, Giáo xứ có tên là Thánh Tâm.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Bình Phước

Qua nhiều thời các Cha quản xứ, đời sống đạo đức của cộng đoàn ngày càng vững mạnh. Cộng đoàn Thánh Tâm ngày càng phát huy tinh thần bác ái, bình đẳng; ổn định đất nhà xứ; xây tường rào và quy hoạch nghĩa trang. Sáu năm sau, nhà thờ Giáo xứ được trùng tu khang trang hơn.

Năm 1991, Cha Phanxicô Nguyễn Đức Đạt phụ trách Giáo xứ Thánh Tâm trong vai trò chánh xứ. Năm năm sau, năm 2000, Cha Phanxicô cùng với cộng đoàn Giáo xứ Thánh Tâm khởi công xây dựng nhà thờ mới và khánh thành nhà thờ mới, khang trang và nguy nga với lối kiến trúc đậm nét nghệ thuật.

Năm 2011, Cha Phêrô Đinh Quang Mạnh Hùng phụ trách Giáo xứ Thánh Tâm. Hiện nay, cộng đoàn Giáo xứ Thánh Tâm đã đi vào ổn định và không ngừng lớn mạnh trong đời sống đức tin và tình mến.

Nhà thờ Tân Mai

Ngày 10.08.1954, một số giáo dân gốc Giáo phận Bùi Chu, Thái Bình và Hải Phòng di cư vào khu rừng xanh thuộc ấp Tân Mai, xã Tam Hiệp, quận Châu Thành, Biên Hòa định cư lập nghiệp.

Đức Giám Mục Phêrô Phạm Ngọc Chi, Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Di Cư bổ nhiệm Cha Phêrô Nguyễn Khang Hy đến phụ trách cộng đoàn và lập nên Giáo xứ Tân Mai. Cha Phêrô trong tư cách là Cha xứ tiên khởi của Giáo xứ Tân Mai đã nhận Đức Mẹ Maria Trinh Nữ Vương làm bổn mạng cho Giáo xứ. Cùng năm, Cha Phêrô và cộng đoàn Tân Mai xây dựng nhà thờ mới (22m x 65m) để có nơi thờ phượng Thiên Chúa sốt sắng hơn trong các thánh lễ và kinh nguyện cho cộng đoàn.

Qua các thời quý Cha quản xứ, nhà thờ Tân Mai nhiều lần được tu sửa và ngày càng khang trang hơn, các con đường trong xứ được trải nhựa để thuận tiện cho việc đi lại, mục vụ.

Năm 1998, Cha Vincentê Đặng Văn Tú được bổ nhiệm phụ trách Giáo xứ Tân Mai. Ngoài việc nâng đỡ đời sống đức tin cho cộng đoàn, Cha Vincentê cùng cộng đoàn xây dựng nhà xứ và nhà mục vụ.

Nhờ sự tân tâm, nhiệt thành của quý Cha quản xứ kế nhiệm, các sinh hoạt hội đoàn của Giáo xứ đi vào nề nếp, ổn định và đời sống đức tin của giáo dân Tân Mai ngày thêm vững mạnh.

Năm 2013, Cha Giuse Phạm Sơn Lâm về phụ trách Giáo xứ Tân Mai. Nhờ lòng đạo đức và sự nhiệt tình của Cha Giuse, cộng đoàn Giáo xứ Tân Mai đã ổn định và phát triển về mọi mặt.

Nhà thờ Chánh Tòa Xuân Lộc

Năm 1945, Giáo họ Xuân Lộc có khoảng 30 gia đình và một nhà nguyện nhỏ tại ngã ba Phan Thanh Giản và Thoại Ngọc Hầu do Cha Mai Ngọc Khuê, chánh xứ Bình Lộc coi sóc.

Năm 1951, giáo dân về đây sinh sống, lập nghiệp ngày càng tăng, lúc này có khoảng 65 gia đình công giáo.

Ngày 15.09.1959, Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Sài Gòn cho tách họ Xuân Lộc khỏi Giáo xứ Suối Tre và nâng lên thành Giáo xứ Xuân Lộc. Cùng lúc, Đức Cha Simon bổ nhiệm Cha Giuse Lâm Quang Trọng làm Cha xứ tiên khởi của Giáo xứ Xuân Lộc.

Ngày 14.10.1965, Giáo phận Xuân Lộc được thành lập. Một năm sau, Đức tân Giám mục Giuse Lê Văn Ấn về nhận Giáo phận Xuân Lộc dưới quyền chủ tọa của Đức Khâm Sứ tòa thánh Angelo Palmas tại nhà thờ Xuân Lộc. Từ ngày này, nhà thờ Xuân Lộc được nâng lên thành nhà thờ Chính Tòa của Giáo phận Xuân Lộc (khởi công: ngày 02.02.1963 và khánh thành: ngày 22.12.1966).

Để chuẩn bị đón Đại Năm Thánh 2000 và 35 năm thành lập Giáo phận Xuân lộc, Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh cùng cộng đoàn Giáo xứ Chính Tòa đại tu nhà thờ và chỉnh trang khuôn viên thánh đường. Qua các thời quý Cha coi sóc Giáo xứ Chính Toà, cộng đoàn lần lượt xây dựng các cở sở hạ tầng để phục vụ Giáo xứ: nhà xứ, nhà giáo lý, hội trường, nhà sách, nhà vãng lai, các tượng đài, bãi xe. Hiện nay, dưới sự hướng dẫn của Cha Đaminh Ngô Công Sứ, các sinh hoạt mục vụ của các hội đoàn Giáo xứ đã đi vào nề nếp, ổn định và cộng đoàn Chính Toà ngày thêm vững mạnh trong đức tin, tình mến.

Địa dư: Đông giáp Tân Phú, Xuân Bình; Tây giáp Núi Đỏ; Nam giáp Xuân Khánh; Bắc giáp Tân Xuân, Bảo Vinh và Núi Tung.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!