READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Đ...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Điện Biên

Điện Biên là một tỉnh miền núi ở vùng Tây Bắc của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[3] Điện Biên giáp tỉnh Sơn La về phía Đông và Đông Bắc, giáp tỉnh Lai Châu về phía Bắc, giáp tỉnh Vân Nam của nước Trung Quốc về phía Tây Bắc và giáp nước Lào về phía Tây và Tây Nam. Tỉnh lỵ của Điện Biên là thành phố Điện Biên Phủ. Điện Biên gắn liền với chiến dịch Điện Biên Phủ và lễ hội hoa ban.

Tên gọi Điện Biên do Thiệu Trị đặt năm 1841 từ châu Ninh Biên. “Điện” nghĩa là vững chãi, “Biên” nghĩa là vùng biên giới, biên ải, “Điện Biên” tức là miền biên cương vững chãi của tổ quốc. Phủ Điện Biên (tức Điện Biên Phủ) thời Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý, tức là tri phủ kiêm quản lý châu), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ xuất hiện từ đó.

Theo số liệu năm 2009 của Tổng cục Thống kê, trên toàn tỉnh Điện Biên có 73 người theo Phật Giáo; 1174 người theo Công Giáo; 36702 người theo đạo Tin Lành; còn lại đa số thì không theo tôn giáo nào cả.

Đồi A1

Đồi A1 nằm dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. A1 là ký hiệu mà quân đội Việt Nam đặt cho quả đồi. Sau nhiều trận chiến vô cùng ác liệt đã diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7/5/1954 quân đội Việt Nam đã chiếm được đồi A1.

Ngày nay, đến với Điện Biên Phủ, du khách sẽ thấy trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”, ở giữa cao, hai bên thấp và đều có hình mái đầu đao. Phía trước là lư hương, ở giữa là tấm bia, phù hiệu Quốc kỳ, sao vàng nền tròn đỏ , xung quanh là vòng tường hoa.

Bên cạnh đài kỷ niệm là xác một trong hai chiếc xe tăng nặng 18 tấn mà tên Quan Ba Hécvuê đưa từ trung tâm Mường Thanh lên để phản kích quân đội Việt Nam. Một di tích quan trọng nữa là cái hố hình phễu to bằng cái “ao đình” cạn.

Đồi C1

Đồi C1 được quân Pháp đặt cho một cái tên thiếu nữ Pháp – Êlian 1, nằm trong dãy đồi liên hoàn phía Đông. C1 cùng với A1, C2, E1, D tạo thành tấm lá chắn bằng thép che chở cho phân khu trung tâm. Xét về địa thế, đồi C1 tuy không có độ cao như đồi E và đồi D, nhưng lại có vai trò quan trọng hơn rất nhiều bởi sự bố phòng liên hoàn cùng với A1. Di tích này nằm ở địa phận phường Mường Thanh – thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

17h ngày 30/3/1954 cùng với các cao điểm phía Đông khác, ta nổ súng tấn công đồi C1. Nếu sự có mặt của ta trên đồi C1 là mối đe doạ nguy hiểm đối với quân Pháp ở dãy điểm cao phía Đông, thì về phía ta, đánh chiếm và giữ được ngọn đồi này sẽ làm bàn đạp tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến vào cứ điểm C2 và A1. Chính vì vậy, cả ta và địch đều phải dùng mọi nỗ lực vào việc củng cố chỗ đứng trên ngọn đồi mà bom đạn địch đã huỷ diệt toàn bộ các công sự chiến đấu cũng như chổ ẩn náu. Cuộc chiến đấu tại đồi C1 diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. Các trận địa pháo và khu vực quân cơ động của địch chìm trong khói lửa.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Yên Bái

Đêm 1/5 /1954 đợt tấn công thứ 3 của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu. Sau 32 ngày đêm chiến đấu phòng ngự trên đồi C1 ta đã làm chủ hoàn toàn cứ điểm C1, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn tiến công tiêu diệt các cứ điểm còn lại của bức tường thành phiá Đông, mở thông cánh cửa vào khu trung tâm tập đoàn cứ điểm. “Con Nhím khổng lồ” Điện Biên Phủ chỉ còn sống những giờ phút hấp hối.

Cùng với thời gian và sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố, các dấu vết của khu di tích chiến trường xưa đã phần nào không còn nguyên vẹn như xưa, bên cạnh nó là hàng loạt các công trình đô thị mới đang mọc lên nhưng trận chiến đấu của các chiến sỹ tại di tích này, cùng với các di tích khác sẽ còn được ghi nhớ trong ký ức của mỗi người dân nơi đây nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Thành Bản Phủ

Thành Bản Phủ là thành lũy được Hoàng Công Chất xây dựng ở châu Ninh Biên, phủ An Tây làm thủ phủ cho nghĩa quân. Thành Bản Phủ tọa lạc ở xã Noọng Hẹt, huyện Điện Biên, cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 9 km.

Sau chiến thắng giặc Phẻ 1754, Hoàng Công Chất đóng quân trong thành Tam Vạn để xây dựng vùng Mường Thanh thành căn cứ địa lâu dài. Năm 1758, Hoàng Công Chất quyết định cho xây dựng thành Bản Phủ một Thành luỹ vững chắc và kiên cố hơn thanh Tam Vạn làm thủ phủ của nghĩa quân. Đến năm 1762, thành Bản Phủ được xây dựng xong.

Trong khoảng thơi gian từ 1758-1762 nghĩa quân Hoàng Công Chất vừa xây dựng thành Bản Phủ vùa hoạt động ra khắp 10 châu của phủ An Tây, phía bắc đến tận vùng Vân Nam (Trung Quốc), phía nam đến tận Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá ngày nay. Năm 1769, quân Trịnh tấn công Mường Thanh, xóa bỏ vùng cát cứ của Hoàng Công Toản (con Hoàng Công Chất), đánh úp và phá hủy thành Bản Phủ.

Thành trì: rộng hơn 80 mẫu, dựa lưng vào sông Nậm Rốm; chân thành rộng 15m, mặt thành rộng 5m, cao 15m; tường thành đắp bằng đất; trồng 3 vạn gốc tre gai đem từ miền Tây Thanh Hóa lên; hào sâu rộng 4-5 thước. Có thuyết nói rằng trên mặt thành ngựa, voi có thể đi lại được. Thành có các cửa: tiền, hậu, tả, hữu. Mỗi cửa có đồn cao và vọng gác…Đền thờ Hoàng Công Chất: được xây ở trung tâm thành, thờ họ Hoàng và 6 thủ lĩnh nghĩa quân. Đền còn là nơi tín ngưỡng của nhân dân trong ngày rằm, đầu xuân năm mới, nhất là ngày lễ hội truyền thống vào các ngày 24, 25 tháng Hai âm lịch hàng năm.

Bảo tàng chiến thắng Điện Biên

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ khánh thành ngày 5/5/2014, là công trình trọng điểm và là công trình có kiến trúc đẹp tại Điện Biên nhằm chào mừng kỷ niệm 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2014). Nhà Bảo tàng được thiết kế dạng hình nón cụt, phần trang trí xung quanh công trình được tạo hình quả trám tượng trưng như tấm lưới ngụy trang của chiếc mũ bộ đội cụ Hồ.

Đây là công trình quy mô, hoành tráng và hiện đại nhất tỉnh Điện Biên, có ý nghĩa vô cùng quan trọng về lịch sử, văn hóa cũng như về kiến trúc và phần nội dung trưng bày. Khu vực trang trọng của bảo tàng đặt ảnh chân dung 26 anh hùng góp phần làm nên chiến thắng chấn động địa cầu năm 1954.

Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là không gian sống động ghi dấu về chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm xưa. Với nhiều hạng mục quan trọng bằng mô hình, khối tượng và gần 1000 tài liệu, hiện vật, ảnh, … có liên quan đã khái quát một cách sinh động, rõ nét cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta trong đó chủ yếu là 56 ngày đêm “Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

A Pa Chải (Ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc)

A Pa Chải là một bản thuộc xã Sín Thầu huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên, Việt Nam. Trước đây bản A Pa Chải là bản ở cực tây trên đất liền của miền bắc Việt Nam. Tên “A Pa Chải” được dùng đặt cho tên đồn biên phòng và cho cửa khẩu A Pa Chải.

 

Nằm ở phía tây tây bắc bản A Pa Chải cách cỡ 8 km theo đường thẳng, là đỉnh Khoan La San cao 1864 m so với mực nước biển, là điểm cao đặt cột mốc biên giới 3 nước Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Nơi này được mệnh danh là “1 con gà gáy cả ba nước đều nghe thấy”. Điểm cao này cách tỉnh lỵ Điện Biên Phủ khoảng 250 km. Nơi đây chủ yếu là người Hà Nhì và một số dân tộc thiểu số khác sinh sống. A Pa Chải trong tiếng Hà Nhì có nghĩa là vùng đất bằng phẳng, rộng lớn.

Hiện nay từ bản A Pa Chải đã tách và lập ra bản Tá Miếu thuộc xã Sín Thầu, và là bản cực tây thật sự ở miền bắc Việt Nam.

Để đến được cao điểm cực tây này, cần phải vượt qua ít nhất 500 km từ Hà Nội lên thành phố Ðiện Biên Phủ, rồi tiếp tục chặng đường núi gập ghềnh, quanh co thêm chừng 260 km nữa mới vào đến xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, nơi có đường biên giới tiếp giáp giữa ba nước Việt Nam – Lào – Trung Quốc. Từ đây, ta tiếp tục xuôi theo con đường nhựa xuyên Mường Nhé là đến A Pa Chải. Vào mùa khô đường đến A Pa Chải tương đối dễ đi, nhưng vào mùa mưa, những cung đường trở nên rất khó khăn, thậm chí rất nguy hiểm.

Khí hậu 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 – 10. Mùa khô từ tháng 11 – 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình 21 – 23 độ C.

A Pa Chải là địa danh gắn liền với cột mốc số 0 (không số) có tọa độ 22°23’53″N 102°8’51″E, nằm trên đỉnh núi Khoan La San thuộc xã Sín Thầu huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Cột mốc là ngã ba biên giới của 3 nước Việt Nam – Lào – Trung Quốc, cột mốc được 3 quốc gia thống nhất cắm mốc vào ngày 27/6/2005, được làm bằng đá granit, cắm giữa một hình lục giác, bên ngoài cùng là khối vuông diện tích 5x5m, cột cao 2 mét có 3 mặt quay về 3 hướng, mỗi mặt có khắc tên nước bằng tiếng quốc ngữ riêng và quốc huy của mỗi quốc gia.

Đèo Pha Đin

Đèo Pha Đin hay Dốc Pha Đin là đèo núi có độ dài 32 km nằm trên quốc lộ 6, một phần thuộc xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La và một phần thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Điểm khởi đầu của đèo cách Thành phố Sơn La về phía Tây 66 km còn điểm cuối của đèo cách Thành phố Điện Biên Phủ khoảng 84 km.

Du khách thường xếp đèo Pha Đin vào một trong “tứ đại đèo” vùng Tây Bắc, bên cạnh Đèo Ô Quy Hồ, Đèo Khau Phạ và Đèo Mã Pí Lèng. Cũng có khi đèo được xếp cùng nhóm sáu con đèo gây ấn tượng nhất Việt Nam bao gồm Khau Phạ, Hồng Thu Mán (trên Quốc lộ 4D, thuộc Pa So Phong Thổ, Lai Châu), Ô Quy Hồ, Hải Vân và Hòn Giao (thuộc Hòn Giao, Khánh Hòa).

Tên gọi đèo Pha Đin nguyên gốc xuất xứ từ tiếng Thái, Phạ Đin, trong đó Phạ nghĩa là “trời”, Đin là “đất” hàm nghĩa nơi đây là chỗ tiếp giáp giữa trời và đất.

Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
Dù bom đạn xương tan thịt nát
Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh

Trích Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Thơ Tố Hữu

Người Lai Châu cũ (nay là Điện Biên) và Sơn La từ xa xưa còn lưu truyền câu chuyện kể về cuộc bàn thảo tìm cách vạch định ranh giới của hai địa phương bằng một cuộc đua ngựa vượt dốc Pha Đin. Người và ngựa của cả hai phía đều đồng thời xuất phát từ hai dốc đèo. Hai dũng sĩ và hai con tuấn mã đều có sức mạnh và ý chí như nhau nên khoảng cách mà họ đi được cho tới địa điểm gặp nhau trên đèo không chênh lệch bao nhiêu. Tuy vậy, phần ngựa Lai Châu phi nhanh hơn nên phần đèo thuộc về Lai Châu dài hơn một chút so với phần phía Sơn La.

Tháp Chiềng Sơ

Tháp Chiềng Sơ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ được xây dựng chừng 400 năm trước, tại bản Nà Muông, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Tháp Chiềng Sơ được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số1255/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 04 năm 2011. Từ trung tâm thành phố Điện Biên Phủ đi đến di tích khoảng 85 km. Từ thành phố đi theo quốc lộ 279 về phía nam đến ngã ba Pom Lót thì rẽ trái sang tỉnh lộ 130, đi theo hướng đông qua Na Sang, vượt dốc Keo Lôm (Thung Gió), đi đến ngã ba ở bản Suối Lư thì rẽ hướng đông nam đến Mường Luân. Từ Tháp Mường Luân đi tiếp 6 km đến xã Chiềng Sơ. Từ đây rẽ vào đường nông thôn, tiếp 5 km đến bản Nà Muông.

Tháp Chiềng Sơ có kiến trúc theo hình nậm rượu, dưới to trên nhỏ dần, được chia thành hai phần: Phần một là bệ tháp; phần hai là thân và các tầng tháp.

Đế tháp có dạng hình vuông mỗi cạnh là 5,3 m. Chiều cao của tháp là 10,5 m. Phần ngọn tháp đã bị gãy dài 1,6m. Trước mặt tháp có 1 bệ thờ. Trước đây, 4 góc quanh chân tháp có đặt hai chú voi ở phía trước và hai chú chó ở phía sau, song cả bốn linh vật kể trên đều đã bị gãy hoặc mất. Trên thân tháp có nhiều hoa văn, họa tiết, như: Tòa sen cách điệu có sáu lớp chồng lên nhau; hình mặt trời, hình hoa lá được bố cục từng phần hài hòa; những con rồng được đắp nổi uốn mình tạo thành hình số tám có đầu và đuôi chụm vào nhau… Nửa phía trên của tháp cong tròn chụm lại, tạo thế mềm mại, trông như những nụ sen. Các phần được nối với nhau bằng các tầng hình lục giác được trang trí nhiều hoa văn nổi bật như những cánh sen. Mặt ngoài tháp có màu trắng ngà, được trát mịn và nhẵn. Một số góc đã bị rêu phủ.

Trước đây người dân tộc Lào vẫn chăm sóc tháp. Từ khi chia tách xã, tháp Chiềng Sơ trở thành điểm tâm linh của người dân tộc Thái ở Nà Muông. Không chỉ ngày lễ, tết mà trước khi dựng nhà, cúng bản, làm các việc quan trọng hoặc trong gia đình có người ốm đau… người dân nơi đây đều mang lễ vật gồm: rượu, bánh kẹo hoặc gà, đến thắp hương, khấn lạy trước tháp.

Hàng năm, bản đều tổ chức dọn cỏ, phát quang khuôn viên tháp 1 – 2 lần. Người dân Nà Muông tin rằng ngọn tháp như một vị thần linh canh giữ, bảo vệ, che chở cho những người con của bản.

Chùa Linh Quang

Từ khi ngôi chùa Linh Quang, xã Thanh Nưa , tỉnh Điện Biên được xây dựng thì những phiên hành lễ không chỉ là những buổi sinh hoạt tôn giáo, mà còn là địa điểm sinh hoạt văn hóa, học tập và trở thành sân chơi bổ ích của người dân nơi đây.

Không chỉ là địa điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cho các phật tử, mà từ nhiều năm nay, chùa Linh Quang nổi tiếng còn là nơi tổ chức thực hiện nhiều hoạt động từ thiện, giúp đỡ những gia đình khó khăn, những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống.

Cầu Mường Thanh

Cầu Mường Thanh quân Pháp gọi là cầu “Prenley”, là cây cầu bắc qua sông Nậm Rốm, ở địa điểm cách ngã ba đường 279 hiện nay khoảng 300 m.

Cầu Mường Thanh là cầu tiến quân lịch sử, là di tích đã được tôn tạo bảo vệ phục vụ khách tham quan du lịch. Trải qua 60 năm, cầu Mường Thanh vẫn được giữ nguyên gốc như khi mới khởi dựng và mãi mãi là cây “cầu tiến quân lịch sử”. Cầu là một công trình quân sự nằm trong phân khu trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Cầu Mường Thanh ngày nay yên bình bắc qua sông Nậm Rốn nối liền thời khắc lịch sử với hiện tại, thu hút nhiều khách du lịch thăm chiến trường xưa hay tìm hiểu về một Điện biên hào hùng.

Cầu Mường Thanh là di tích đã được tôn tạo bảo vệ phục vụ khách tham quan du lịch. Trải qua 60 năm, cầu Mường Thanh vẫn được giữ nguyên gốc như khi mới khởi dựng và mãi mãi là cây “cầu tiến quân lịch sử”.

Nghĩa trang liệt sỹ Đồi A1

Thật khó diễn tả tâm trạng của mỗi người khi đến với Điện Biên. Có người mong muốn được tận mắt chứng kiến những địa danh, di tích ghi mốc trong lịch sử dân tộc, hiểu hơn sự hy sinh anh dũng của thế hệ cha ông làm nên những chiến công lừng lẫy. Cũng có người, là con cháu của các liệt sỹ hy sinh tại chiến trường này tìm về với ước nguyện tìm được thông tin của người thân.

Nghĩa trang liệt sỹ A1, nằm cách điểm di tích lịch sử đồi A1 (thành phố Điện Biên Phủ) vài trăm mét về phía nam, được xây dựng năm 1958.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Gia Lai

Năm 1994, Nghĩa trang được đầu tư trên 10 tỷ đồng tu sửa nâng cấp. Nơi đây có 644 ngôi mộ là những cán bộ, chiến sỹ quân đội đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch Điện Biên Phủ hầu hết là các ngôi mộ vô danh, chỉ có 4 ngôi mộ có tên là các anh hùng liệt sỹ: Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Trần Can.

Nơi đây có 644 ngôi mộ là những cán bộ, chiến sỹ quân đội đã hy sinh anh dũng trong chiến dịch Điện Biên Phủ hầu hết là các ngôi mộ vô danh.

Cầu Hang Tôm

Từng là cây cầu dây văng lớn nhất Đông Dương với biệt danh “Đông Dương đệ nhất cầu”, sau gần 40 năm, cầu Hang Tôm cũ đã kết thúc sứ mệnh lịch sử khi cầu Hang Tôm mới đã chính thức hoàn thành vào tháng 11/2012. Công trình này gắn liền với Thủy điện Sơn La hùng vĩ, đồng thời tạo dựng nên một kỳ tích mới của những người thợ cầu trên dòng Đà giang hung dữ.

Cầu Hang Tôm không chỉ là cây cầu dây văng lớn nhất của cả khu vực vào thời điểm bấy giờ mà còn nhờ khung cảnh kỳ vĩ của nó, sau khi sông Đà hợp lưu với dòng Nậm Na, cuồn cuộn chảy giữa hai dãy núi cao vút, quốc lộ 12 men theo bờ sông cheo leo hiểm trở, chiếc cầu đẹp như một khuông nhạc kẻ vắt qua đôi bờ dựng đứng.

Ngày đó, muốn từ Mường Lay (Điện Biên) qua sông Đà sang Mường So, Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu) phải đi bằng đò và phà. Mùa cạn nước sông hiền hòa còn đỡ, chứ mùa lũ, sông Đà hung dữ vô cùng. Nhưng có việc thì vẫn phải đi, bất chấp nguy hiểm dập dình. Năm nào cũng có chuyện phà trôi, đò lật, chết người thật hãi hùng.

Đó là câu chuyện ông Lò Văn Tòng, người dân tộc Thái kể cho chúng tôi về những kỷ niệm vượt sông Đà trước khi có cầu Hang Tôm.

Cuối những năm 1960, cầu Hang Tôm bắt đầu được tiến hành xây dựng. Ngày đó, chuyên gia và công nhân Trung Quốc cũng qua giúp ta làm cầu. Tuy nhiên, đến năm 1968, Trung Quốc xảy ra cách mạng văn hóa, chuyên gia và công nhân của họ rút hết về nước. Rất may khi đó hạng mục được coi là khó nhất là cáp treo đã được kéo xong, chỉ còn lại các công đoạn hoàn thiện.

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực cầu đường Việt Nam, dù đã được xây dựng cách nay 40 năm, nhưng công nghệ xây cầu Hang Tôm cũ được đánh giá không kém gì công nghệ xây dựng nhiều cầu hiện đại bây giờ. Tuy thi công giữa vùng núi non hiểm trở nhưng đây vẫn được coi là cây cầu treo dây văng lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Khi cầu xây xong, để tránh sự phá hoại của các toán biệt kích địch, hai đầu cầu luôn có một trung đội công an chừng 30 người làm nhiệm vụ túc trực bảo vệ. Về sau trung đội này rút dần còn chừng một tiểu đội.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, cầu Hang Tôm là một trong những cây cầu bê tông đúc hẫng dự ứng lực khó thi công nhất tại Việt Nam do chiều cao, điều kiện địa hình thi công. Chỉ tính riêng khối lượng đá khổng lồ để trộn bê tông cho toàn bộ cây cầu do không thể khai thác tại chỗ, phải vận chuyển hàng trăm km từ các mỏ đá tại tỉnh Sơn La lên mới thấy hết sự vất vả của các đơn vị thi công. Điều kiện địa hình núi dốc đứng, mặt bằng thi công chật hẹp cùng sự thiếu thốn về điều kiện ăn ở, sinh hoạt. Chính vì vậy mà một kỹ sư đã tuyên bố một cách rất chủ quan rằng: đã xây được cầu Hang Tôm thì không ngại bất cứ cây cầu nào trên đất nước Việt Nam

Tháp Mường Luân

Tháp Mường Luân là một di tích kiến trúc nghệ thuật cổ, nằm ở chân núi Hủa Ta (núi Đầu Nguồn) trên bờ dòng Nậm Ma (sông Mã) tại bản Mường Luân 1, xã Mường Luân, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Tháp được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp I, cấp quốc gia từ năm 1980.

Từ trung tâm thành phố Điện Biên Phủ đi đến di tích khoảng 75 km. Từ thành phố đi theo quốc lộ 279 về phía nam đến ngã ba Pom Lót thì rẽ trái sang tỉnh lộ 130, đi theo hướng đông qua Na Sang, vượt dốc Keo Lôm (Thung Gió), đi đến ngã ba ở bản Suối Lư thì rẽ hướng đông nam đến Mường Luân.

Tháp có kiến trúc theo hình vuông, hiện vẫn giữ được kết cấu hoa văn nguyên bản.

Tháp cao 15,5m, chia làm 3 phần chính là bệ tháp, thân tháp và ngọn tháp. Bệ tháp hình vuông mỗi chiều rộng 8 m, cao 1 m, xây bằng hai loại gạch chỉ khác nhau, được trạm khắc hoa văn, hoạ tiết cách điệu rất cầu kỳ thể hiện được sự khéo léo và tinh tế. Thân tháp chia làm 4 tầng, xung quanh đắp nổi các hoạ tiết cách điệu gồm chim bay, rồng cuốn, quả trám, cánh sen, lưỡi mác, mặt trời và lắp các gương con…

Phán Quan tổng hợp

 

Chia sẻ bài viết Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestShare on VKTweet about this on TwitterEmail this to someoneShare on YummlyShare on TumblrShare on LinkedInPrint this page

Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!