READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại C...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc). Tỉnh lị là thành phố Cao Bằng nằm trên quốc lộ 3, cách thủ đô Hà Nội 286 km.

Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

Khu vực thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao tại huyện Trùng Khánh là một thắng cảnh đẹp. Thác nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn, được ca ngợi là một trong những thác nước đẹp nhất trong khu vực và trên thế giới. Động Ngườm Ngao (dịch theo tiếng địa phương là hang hổ) là thế giới của nhũ đá thiên nhiên gồm hàng nghìn hình khối khác nhau, có cái như đụn gạo, đụn vàng, đụn bạc, hình voi, rồng, hổ báo, mây trời, cây cối, hoa lá, chim muông, các khe suối ngầm róc rách mát rượi. Nơi đây đã hình thành điểm du lịch hấp dẫn, thu hút các du khách đến từ khắp nơi trong và ngoài nước đến thưởng ngoạn.

Thác Bản Giốc

Thác Bản Giốc, Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên-Bản Ước (tiếng Trung: 德天-板約; bính âm: Détiān – Bǎnyuē), là một nhóm thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, thành phố Sùng Tả của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Theo quan điểm của Trung Quốc thì thác chính và thác phụ là hai thác riêng biệt, thác chính (Đức Thiên) có chiều rộng 100 m, độ sâu 60 m và độ cao là 70 m. Theo quan điểm của phía Việt Nam, thác Bản Giốc bao gồm cả thác chính và phụ với tổng chiều rộng là 208 m. Thác Bản Giốc được chia thành hai phần, phần ở phía Nam gọi là thác Cao, đây là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác Thấp là thác chính nằm ở phía Bắc trên biên giới Việt Trung.

Thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới giữa các quốc gia (Sau thác Iguazu giữa Brasil – Argentina, thác Victoria nằm giữa Zambia – Zimbabwe; và thác Niagara giữa Canada và Hoa Kỳ). Tuy nhiên, theo Tân Hoa xã thì thác Bản Giốc là thác xuyên quốc gia lớn thứ hai trên thế giới. Thác Bản Giốc là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Có dư luận cho rằng toàn bộ hai phần thác Bản Giốc vốn thuộc về Việt Nam và đã bị mất cho Trung Quốc. Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng khẳng định rằng thông tin đó hoàn toàn không có cơ sở, rằng Công ước Pháp-Thanh 1887 và Hiệp định 1999 đều quy định đường biên giới khu vực này chạy theo trung tuyến dòng chảy sông Quế Sơn (Quây Sơn), lên thác và tới mốc 53 phía trên. Nghĩa là, phần thác phụ hoàn toàn nằm bên phía Việt Nam, phần thác chính có một phần thuộc Trung Quốc.

Thác Bản Giốc là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng, từng được Tạp chí Địa lý Quốc gia Trung Quốc bình chọn là một trong sáu thác nước đẹp nhất Trung Quốc vào năm 2005. Ngoài ra, Nhân dân Nhật báo và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc cũng đã đánh giá thác Bản Giốc là một trong mười thác nước đẹp nhất Trung Quốc. Thác Bản Giốc cũng đã đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội họa và nhiếp ảnh đặc sắc. Ngoài giá trị du lịch và nghệ thuật, thác cũng có tiềm năng thủy điện. Ngoài ra, tại Việt Nam, cũng có nhận định cho rằng thác Bản Giốc là thác nước đẹp nhất của quốc gia. Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch của tỉnh Cao Bằng, mỗi năm Việt Nam có khoảng 30.000 người đến thăm Bản Giốc, còn phía Trung Quốc đón gần 1 triệu lượt người.

Chùa Phật Tích Trúc Lâm

Chùa Phật tích Trúc lâm Bản Giốc được thi công xây dựng theo lối thiết kế kiến trúc thuần Việt trên diện tích 3 ha do UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt. Được khởi công từ tháng 6/2013, chùa Phật tích Trúc lâm Bản Giốc gồm các hạng mục chính: Cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống, bia đá và tam bảo, nhà thờ Tổ, nhà thờ Mẫu, đền thờ các anh hùng dân tộc, Nam Việt Triệu Tổ Hùng Vương các đời, nhà khách cùng các hạng mục cảnh quan phụ trợ.

Đây là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng tại nơi biên cương phía Bắc của Tổ quốc. Chùa Phật tích Trúc lâm Bản Giốc được xây dựng nguy nga và khang trang trên ngọn núi Phia Nhằm, thuộc bản Giốc, xã Đàm Thủy, cách thác Bản Giốc khoảng 500m. Từ trên chùa có thể nhìn bao quát được toàn bộ Thác Bản Giốc và một vùng không gian rộng lớn phía dưới.

Chùa Phật tích Trúc lâm Bản Giốc là công trình thiết thực, phục vụ nhu cầu tôn giáo tâm linh và có tầm quan trọng trong việc phát triển Khu du lịch thác Bản Giốc thành Khu du lịch trọng điểm Quốc gia.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Quảng Trị

Những hạng mục bậc thang và hành lang của chùa đều được làm bằng đá. Chuông đồng có khắc tên chùa Trúc lâm Bản Giốc. Việc khánh thành ngôi chùa tại nơi biên cương sẽ là điểm đến du lịch tâm linh và đẩy mạnh phát triển du lịch của địa phương.

Pháo Đài

Pháo Đài Cao Bằng do thực dân Pháp xây dựng từ năm 1941, đến năm 1943 thì hoàn thành và đưa vào sử dụng, pháo đài được xây ở vị trí phía Đông – Nam thị xã Cao Bằng, đây là một vị trí có ưu thế về mặt quân sự, có thể quan sát được tòan bộ các khu vực ngoại vi, đặc biệt là cầu Bằng Giang và cầu Sông Hiến, đây là hai cây cầu mà thực dân Pháp cho là những trở ngại lớn nhất khi đối phương muốn tấn công vào trung tâm.

Pháo đài Cao Bằng được nhiều nhà quân sự phương tây đánh giá là một trong những pháo đài đẹp và kiên cố nhất Đông Dương, do một kỹ sư người Đức thiết kế, pháo đài có diện tích 10 ha, xung quanh xây tường cao 8 – 10m, tường được xây bằng loại đá rắn chắc, có độ bền cao, hệ thống phòng ngự được chia thành 4 cụm hoả lực chính, mỗi cụm có một lô cốt, hình thù như những con sư tử hung mãnh rình mồi để gây đòn tâm lý với đối phương, Pháo đài chỉ có một cổng chính ra vào, cách cổng khoảng 0,5m có một cầu rút, khi có báo động hoặc chiến đấu, cầu rút sẽ được trục tời điều khiển đóng kín cổng và lập tức toàn bộ vành đai pháo đài được khép kín.

Pháo đài được xây dựng công phu, kiên cố, có đầy đủ trang thiết bị quân sự, vũ khí với một binh chủng khá mạnh do viên quan tư Renl chỉ huy. Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, viên toàn quyền Decoux bị bắt và đã ra lệnh cho các đơn vị hạ vũ khí đầu hàng, nhưng thực dân Pháp đóng chiếm ở các tỉnh lẻ vẫn chưa nhận được tin từ trung tâm chỉ huy, nên vẫn bình chân chiếm giữ các đồn bốt và pháo đài.

Vì vậy đêm 13 rạng ngày 14/3/1945 Nhật khởi chiến tại thị xã, chúng cắt hết đường dây điện thọai, dây thép thông tin và chiếm công sở bưu điện, sáng ngày 13 chúng tiến vào Nguyên Bình hạ đồn Cao Sơn, sau đó ngày 16/3 chúng quay trở lại thị xã cùng lúc quân Nhật tiếp viện từ Lạng Sơn lên, hai đơn vị cùng phối hợp tiến công vào chiếm pháo đài và thị xã, khi Nhật tiến quân vào chiếm pháo đài thì không còn một bóng quân Pháp nữa, pháo đài đã bị bỏ ngỏ, vì ngày 10/3/1945 quan tư Renl lấy hết vàng bạc và tiền của cùng tóan lính thất trận chạy vào Trùng Khánh, bỏ đại đội 9 cùng 1 số đơn vị khác ở lại canh pháo đài, nhưng rồi chúng cũng chạy trốn khi chưa thấy bóng dáng quân Nhật.

Miếu Bách Linh

Miếu Bách Linh ở chân núi đá Cốc Bó, cách chợ thị trấn Quảng Uyên (Quảng Uyên) hơn 200 m. Miếu kiến trúc thời Nguyễn, xây dựng đã mấy trăm năm, cột gỗ, lợp ngói máng. Đến năm Khải Định thứ 6 (1912) có quan tri châu Quảng Uyên tên là Hà Lương Tín ở Tràng An, quê Thái Bình, thuê thợ dưới xuôi lên trùng tu xây bằng gạch, miếu có dáng dấp ngôi chùa.

Trước cổng có tam quan, có sân tiền đường, hậu đường và hậu cung, có hoành phi, câu đối. Cổng tam quan nay còn giữ được nhưng đã lấp hai cổng phụ. Trên cổng khắc ba chữ “Bách Linh miếu” có đắp nổi con rồng uốn khúc, xây bằng gạch vồ (gạch thời Mạc), có bức trạm rồng ngậm ngọc, bên cạnh có chim phượng hoàng, long ly tụ hội. Cách miếu 5 m về phía nam có bài thơ chữ quốc ngữ khắc vào đá của Thú y Trần Thọ Huy. Nội dung bài thơ ca ngợi cảnh đẹp ngôi miếu thần linh.

Miếu Bách Linh đã đi vào đời sống tâm linh của người dân nơi đây. Hằng năm mở lễ hội vào ngày 2 tháng 2 âm lịch gọi là lễ hội “Pháo hoa”. Lễ rước kiệu xuất phát từ mỏ nước Cốc Bó để khai quang cho rồng mở mắt dưới gốc cây cổ thụ ở mỏ nước. Chủ lễ bóc miếng giấy ở mắt rồng, sau 3 hồi trống rồng mới bay lên 3 lần đi vòng quanh miếu Bách Linh rồi mới rước thần qua miếu thờ đức Trần Hưng Đạo đại vương, miếu thờ Nùng Trí Cao rồi múa rồng đi khắp phố. Dân trong phố thắp hương trước cửa đón mừng lộc đã đến nhà mình. Đoàn rước kiệu đi đầu có ảnh Bác Hồ, đoàn thứ 2 là kiệu thần miếu, có bát hương to, thứ 3 là kiệu rước đầu pháo, thứ tư là rước lợn quay phần thưởng cho đội nào cướp được đầu pháo thắng cuộc thì người và đội làng ấy ăn mừng, thần linh phù hộ cho bản làng yên vui, sung túc.

Lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên là một di sản văn hóa phi vật thể, để bảo tồn những giá trị văn hóa đó cần lập ban bảo vệ di tích miếu Bách Linh, bảo vệ cảnh quan của miếu, tránh để các tư nhân lấn chiếm xâm phạm đến đất chùa, nhất là bảo vệ mặt tiền của Miếu. Đề nghị tỉnh nghiên cứu ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh để có cơ sở pháp lý bảo vệ và phát huy di tích.

Di tích chiến thắng chiến dịch biên giới 1950

Nhắc tới du lịch Cao Bằng không thể không đến thăm quan Khu di tích lịch sử đặc biệt quốc gia Pác Bó, thác Bản Giốc – động Ngườm Ngao hay Khu di tích quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo… Các khu, điểm du lịch Cao Bằng thường ở cách xa nhau nên du khách đến với các khu này đều phải di chuyển bằng ô tô, xe máy; có những khu vực chủ yếu là phải đi bộ, nhất là những du khách ưa mạo hiểm, tham quan các bản làng xa xôi. Đây là những điều kiện cho phong trào du lịch Trekking, Phượt.
Nhân kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử biên giới năm 1950, xin giới thiệu cho du khách thập phương một địa điểm rất phù hợp với loại hình du lịch Trekking, phượt mạo hiểm đó là di tích chiến thắng biên giới 1950 gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vị trí Khu di tích chiến thắng biên giới trải dài trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, tập trung chủ yếu ở xã Đức Long và thị trấn Đông Khê. Di tích đồn Đông Khê đánh dấu cho cuộc chiến đấu dũng cảm ngoan cường của quân đội nhân dân ta lúc bấy giờ, những gương mặt hào hùng đã đi vào sử sách như La Văn Cầu, Lý Viết Mưu, Trần Cừ… Vị trí Đài quan sát – Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn để chỉ huy chiến dịch biên giới năm 1950 là núi Lăng Đồn thuộc xóm Nà Lạn, xã Đức Long huyện Thạch An. Đây là khu là di tích được bao phủ bởi thảm thực vật phong phú và đa dạng; sen lẫn là những dấu tích lịch sử của cuộc chiến năm xưa nằm trên cung đường trải nghiệm, khám phá của du khách như: Khu thông tin liên lạc, khu hội họp bàn trận đánh, khu nghỉ ngơi…

Đến tham quan, khám phá và tìm hiểu điểm du lịch di tích lịch sử chiến dịch biên giới 1950; du khách còn được trải nghiệm tham quan các bản làng dân tộc, giao lưu văn hóa với bà con người đồng bào dân tộc Tày, Nùng… nhất là khám phá những nhà sàn hoặc nhà chệt có những nét văn hóa giao thoa của hai nền văn hóa Pháp với văn hóa người dân tộc địa phương đã tạo ra một kiến trúc nhà sàn có sự riêng biệt thể hiện ở các kết cấu, cửa đi lại, hệ thống bệ tảng đỡ trụ cột nhà…tại xã Đức Xuân, Lê Lợi. Theo chủ của ngôi nhà 9 gian tại xóm Tục Ngã, xã Đức Xuân cho biết dường như vị trí ngôi nhà này đã được đánh dấu trong bản đồ du lịch của người Pháp nên du khách đến đây chủ yếu là du khách pháp đến tìm hiểu.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo

Rừng Trần Hưng Đạo là khu rừng nằm dưới chân núi Slam Cao thuộc hai xã Tam Kim, Hoa Thám, huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng, nằm ở phía Tây Nam và cách thành phố Cao Bằng khoảng 50 km. Khu rừng hiện được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt này là nơi từng diễn ra sự kiện thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày 22 tháng 12 năm 1944.

Rừng Trần Hưng Đạo nằm dưới chân đỉnh Slam Cao, ngọn núi cao nhất trong dãy núi Dền Sinh, Khau Giáng/Áng. Từ nhà bia trung tâm khu di tích lên đỉnh Slam Cao là lối đi gồm 505 bậc đá. Đỉnh núi có khuôn viên cho du khách nghỉ ngơi, nơi dựng cột cờ và tấm bia ghi dấu địa điểm từng đặt đài quan sát, theo dõi đồn Phai Khắt của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Nơi đây vẫn giữ được cảnh quan của rừng nguyên sinh nhiệt đới với vẻ hoang sơ; khí hậu mát mẻ quanh năm, nền nhiệt trung bình hàng năm chỉ khoảng 15-20 độ C; nhiều cây cổ thụ, trong đó có cây sấu trên 300 năm tuổi được công nhận là cây di sản Việt Nam.

Các di tích lịch sử cách mạng trong khu rừng hiện có nhà bia tưởng niệm; dãy lán nghỉ và bếp ăn được tái hiện của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân 70 năm trước cách trung tâm nhà bia khoảng 30 mét; bức phù điêu bằng đá xanh nguyên khối trước lối vào khu rừng; nhà trưng bày xây dựng theo kiểu nhà sàn hai tầng trưng bày các hiện vật quý như lá cờ đỏ sao vàng được nhân dân xã Tam Kim giương cao trong cuộc mít tinh ở Lũng Chí, Hoa Thám năm 1942, các vật dụng sinh hoạt của đồng bào dùng để đùm bọc anh Văn-Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Mỗi năm khu rừng và các di tích liên quan thu hút hàng ngàn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu, hành hương về nguồn.

Khu di tích anh Kim Đồng

Kim Đồng (tên thật là Nông Văn Dền) sinh năm 1929. Ngày 15/5/1941, đồng chí Đức Thanh là cán bộ cách mạng quyết định thành lập Đội nhi đồng cứu quốc tại làng Nà Mạ, gồm có 4 đội viên: Kim Đồng, Cao Sơn, Thanh Thuỷ, Thuỷ Tiên do Kim Đồng làm đội trưởng.

Tháng 8/1942, Kim Đồng vinh dự được gặp Bác Hồ tại hang Nộc Én ở trên núi sau làng Nà Mạ. Bác khen ngợi đội trưởng Kim Đồng mưu trí, nhanh nhẹn, dũng cảm. Bác khuyên Kim Đồng cùng đội viên hãy giúp đỡ, tích cực bảo vệ cách mạng, vừa hoạt động vừa học văn hoá, chính trị để sau này nước nhà giành được độc lập, góp phần xây dựng đất nước. 5 giờ sáng ngày 15/2/1943, trong lúc đang làm nhiệm vụ canh gác cuộc họp của ban Việt Minh, khi phát hiện giặc lùng sục đến gần, Kim Đồng đã nhanh trí đánh lạc hướng để bảo vệ cán bộ cách mạng, địch nổ súng, Kim Đồng bị trúng đạn và đã hy sinh, khi đó vừa tròn 14 tuổi.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại An Giang

Kim Đồng đã được Đảng và nhà nước phong tặng anh hùng liệt sỹ năm 1997. Khu di tích Kim Đồng được xây dựng ngay trên quê hương anh gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân rặng núi đá cao đồ sộ, bên cạnh rừng cây nghiến xanh biếc, luôn toả bóng mát với những làn gió vi vu, như ru anh yên nghỉ.

Tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát.

Nhà thờ Giáo xứ Cao Bình

Cách trung tâm của thị xã Cao Bằng khoảng 10km, có một xứ đạo nhỏ bé với ngôi thánh đường vươn lên giữa những đồi núi xanh ngát. Giáo xứ Cao Bình hiện diện trên 100 năm qua nơi miền đất này đã trở nên rất đỗi thân thuộc với những người dân nơi đây.

Trong khi hoà mình vào những sinh hoạt của Giáo phận trong dịp kỷ niệm 100 năm Toà Thánh ban sắc chỉ thiết lập Phủ Doãn Tông Toà Lạng Sơn – Cao Bằng, mọi thành phần Dân Chúa nơi Giáo xứ Cao Bình cũng hân hoan dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân Đức Tin cao quý đã lãnh nhận. Và khi cùng hướng tới tương lai đầy hứa hẹn, mọi người cùng ôn lại những dòng lịch sử trong sự hình thành và phát triển của xứ đạo Cao Bình.

Khu vực phố Cao Bình khi đó thuộc phủ Hoà An của tỉnh Cao Bằng. Nơi đây đất đai trù phú, nằm giữa một vùng rừng cây xanh tốt có núi non bao quanh. Các Đấng thừa sai đã quyết định thiết lập một cơ sở truyền giáo tại đây. Đó chính là những cột mốc đầu tiên đưa đến sự ra đời của xứ đạo Cao Bình.

Vào năm 1910, Cha Bardol Cảnh đã thiết lập họ đạo mang tên Cao Bình, cách sông Bằng Giang khoảng 9 cây số. Đây là cơ sở bước đầu cho công cuộc truyền giáo nơi đây.

Trải qua hơn 100 năm hạt giống Tin Mừng được gieo vãi trên mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, nơi Giáo xứ Cao Bình vẫn vang lên lời ca tụng Thiên Chúa, vì muôn phúc lành của Người tuôn đổ tràn đầy. Từ khi được thiết lập, trải qua những năm tháng khó khăn đầy thách đố, Giáo xứ Cao Bình cũng hoà nhịp với từng trang sử của Giáo phận truyền giáo Lạng Sơn – Cao Bằng. Mọi thành phần Dân Chúa nơi đây, trong khi ôn lại quá khứ để hướng tới tương lai, đã càng thêm xác tín vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Giáo xứ Cao Bình giờ đây bước sang trang sử mới, kiên trung giữ vững Đức Tin, hăng hái nhiệt thành trở nên chứng nhân Tin Mừng của Thiên Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Phán Quan tổng hợp


Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!