READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại B...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Bến Tre

Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông với chiều dài đường biển khoảng 65 km và các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Trung tâm của tỉnh Bến Tre cách Thành phố Hồ Chí Minh 87 km về phía Tây qua tỉnh Tiền Giang và Long An

Bến Tre cũng là quê hương của Đạo Dừa, với biệt danh là “Xứ Dừa”. Từ thời Chiến tranh Việt Nam, Bến Tre được coi là “quê hương Đồng khởi”, mở đầu cho cao trào đấu tranh vũ trang của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm, khốc liệt nhất là trong năm 1960. Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 34/NQ-CP, thành phố Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre được thành lập, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bến Tre. Sau khi thành lập thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre có 9 đơn vị hành chính trực thuộc.

Tượng đài đồng khởi

Tượng đài Đồng Khởi tọa lạc trong công viên Ngã Ba Tháp, trên đại lộ Đồng Khởi – con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đây là một trong những tượng đài tiêu biểu cho lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đại là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, mặc dù bị bom đạn bắn rách tả tơi nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữa tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng của tinh hoa kháng chiến Bến Tre.

Bên cạnh là tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là gái trai, già trẻ đều ôm trong tay vũ khí và xác người đồng đội đã hy sinh tiến thắng về phía trước.

Phía sau là phù điêu về đội quân tốc dài huyền thoại. Xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi, đội quân đặc biệt này có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế gới. Họ có mặt ở hầu hết các công tác cách mạng hậu phương. Vũ khí của họ không phải là súng đạn mà chủ yếu là sự thông minh khôn khéo, thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể.

Nhà thờ La Mã

Đức Mẹ La Mã Bến Tre là tên gọi của giáo dân Công giáo Việt Nam đề cập đến hiện tượng bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hiện hình sau khi bị mờ hình ảnh hơn 3 tháng nằm dưới kênh. Nhà thờ La Mã (huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) – nơi lưu giữ bức ảnh – thuộc Giáo phận Vĩnh Long, là một trong 3 trung tâm hành hương Công giáo tại Việt Nam được chính quyền Việt Nam công nhận.

Ngày nay, Đức Mẹ La Mã Bến Tre là trung tâm hành hương thứ ba của Giáo hội Việt Nam, sau Đức Mẹ La Vang và Đức Mẹ Trà Kiệu, được nhà nước Việt Nam công nhận. Trung tâm thánh địa là Nhà thờ La Mã Bến Tre với chiều dài 35m, chiều ngang 16m và tháp chuông cao 19m.

Tại đoạn sông nơi bà Sáu Liền vớt được bức ảnh, nằm về hướng trước mặt nhà thờ La Mã, từng có một đài kỷ niệm sự kiện này, nhưng hiện tại đài đã bị vùi lấp dưới dòng sông và không còn dấu tích. Tại khu đất sát bờ sông La Mã, nằm về hướng phía sau nhà thờ La Mã, có một đài kỷ niệm được dựng tại vị trí căn nhà của ông Hạt khi xưa.

Nguồn gốc hình thành Trung Tâm Hành Hương La Mã Bến Tre

Khoảng năm 1930, linh mục Luca Sách, chánh xứ Cái Bông, đến thành lập họ đạo Sơn Đốc và tặng cho nhà thờ này bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp có lồng kính. Năm 1947, với sự ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh Đông Dương, giáo dân phải đi tản cư, trong đó có 11 gia đình xuống Bầu Dơi (nay thuộc địa phận thôn Hiệp Hưng, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, Bến Tre, cách thành phố Bến Tre 28 km về phía Đông Nam).

Đầu năm 1950, ông trùm họ Nguyễn Văn Hạt lẻn vào nhà thờ Sơn Đốc đem bức ảnh Đức Mẹ về nhà mình, sau đưa cho con trai mình là Nguyễn Văn Thành đem về cất giữ. Năm 1949, họ đạo Bầu Dơi được thành lập và được Giám mục Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục đặt tên mới là họ đạo La Mã vào ngày 11 tháng 11 cùng năm. Bức ảnh Đức Mẹ trở thành linh vật của họ đạo La Mã.

Ngày 2 tháng 2 năm 1950, quân Pháp đến bố ráp vùng Bầu Dơi, nhiều nhà dân bị tàn phá nặng nè. Dân chúng, kể cả các giáo dân, đều chạy loạn. Một giáo dân (không rõ tên) cố mang theo bức ảnh Đức Mẹ chạy loạn nhưng không rõ vì sao dọc đường bức ảnh bị rơi xuống sông.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Nha Trang

Ba tháng sau, ngày 5 tháng 5, một nữ tín đồ Cao Đài tên Võ Thị Liễng (có bản ghi là Liềng) đi mò cua bắt ốc đã vô tình vớt được bức ảnh, tuy còn nguyên khung nhưng không còn hình ảnh mà thay vào đó là bùn. Ông Thành bèn đem bức ảnh về nhà và dùng mọi cách để rửa, tuy nhiên ảnh bị ố vàng và phai mờ nên không thể tôn kính được nữa. Ông thành bèn treo ảnh trên mái hiên nhà để che mưa nắng. Tháng 8 cùng năm, ông Trùm Hạt sang giúp con chuyển nhà về quê vợ ở Tam Bình, vô tình nhìn thấy nên đã đem bức ảnh về nhà lại đặt trên tủ thờ giữa.

Năm tháng sau, vào ngày 7 tháng 10 năm 1950, một chiếc tàu Pháp chạy dọc theo con rạch trước nhà ông Biện Hạt bắn phá lung tung. Căn nhà của ông Hạt và những nhà chung quanh đều bị đạn bắn phá tan tành, duy chỉ còn tủ thờ và tấm vách lá phía sau là còn nguyên vẹn. Bức ảnh vốn đã bị phai nhạt hết hình, nay lại nổi lên rõ ràng, duy chỉ còn mũ triều thiên trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng thì còn lu mờ. Sự kiện này được các giáo dân tôn sùng như phép lạ thứ nhất của bức ảnh.

Sau sự kiện này, ông Hạt đã đưa bức ảnh trả lại cho nhà thờ Cái Bông. Lời đồn về sự lạ với bức ảnh Đức Mẹ lan nhanh, nhiều giáo dân và những người hiếu kỳ tìm đến để đọc kinh cầu nguyện, xin ơn và chiêm ngưỡng Mẹ Lộ Hình. Đến ngày 20 tháng 6 năm 1951, họ đạo La Mã khánh thành ngôi nhà thờ mới, bức ảnh được giáo dân đón rước trọng thể từ nhà thờ Cái Bông trở về nhà thờ La Mã.

Ngày 15 tháng 8 năm 1951, nhân dịp lễ Đức Mẹ Mông Triệu, linh mục Phêrô Dư, quản sở họ đạo Cái Sơn, kiêm quản họ đạo La Mã, đã tổ chức cung nghinh bức ảnh từ họ đạo La Mã đến họ đạo Cái Sơn. Trong thời gian tổ chức lễ, các giáo dân chứng kiến bức ảnh một lần nữa biến đổi: mũ Triều thiên trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng hiện ra thật rõ ràng. Thêm vào đó, bức ảnh lúc mới được vớt lên, giấy ảnh gắn chặt vào kính, nhăn nhúm ố vàng và có nhiều lỗ thủng, còn bấy giờ thì hiện ra rõ ràng, các lỗ thủng đã biến mất. Sự kiện này được các giáo dân tôn sùng như phép lạ thứ hai của bức ảnh.

Bức ảnh sau đó lại được trả về cho nhà thờ La Mã. Những lời đồn đại về phép lạ của bức ảnh lan rộng, thu hút ngày càng nhiều giáo dân và những người hiếu kỳ. Sự việc đến tai Giám mục Vĩnh Long Phêrô Mactino Ngô Đình Thục và ngày 12 tháng 1 năm 1952, Giám mục Thục đã bí mật đến nhà thờ La Mã để nghe thuật lại.

Sau đó, ông đã cho thành lập một ủy ban gồm có các linh mục triều và dòng, để cứu xét về “Sự lạ La Mã”. Ngày 11 tháng 2 năm 1952, Giám mục Thục đã ban một Huấn lệnh cho phép giáo dân được hành hương đến viếng ảnh.

Ngày 20 tháng 10 năm 1952, theo quyết định của Ủy ban cứu xét về “Sự lạ La Mã”, bức ảnh được đưa về nhà thờ Cái Bông. Ủy ban cũng mở cuộc điều tra, cho mời những người có liên hệ, các giáo dân tuyên bố nhận được phép lạ đến để tường thuật lại và ghi nhận các lời chứng để hoàn thành hồ sơ điều tra phúc trình về Tòa thánh. Trong dịp này, Giám mục Phêrô Mactino Ngô Đình Thục đã tuyên bố chọn La Mã là trung tâm hành hương “Kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”.

Đường đi đến Trung Tâm Hành Hương

– Từ Mỹ Tho, qua Cầu Rạch Miễu đi thẳng đến Vòng xoay A

– Rẽ phải, theo con đường dẫn đến Cầu Hàm Luông sẽ gặp Vòng xoay B

– Đến Vòng xoay B thì rẽ trái, theo con đường dẫn đến Cầu Mỹ Hóa (Cầu Bến Tre 2)

– Qua Cầu Mỹ Hóa đi thẳng vào Tỉnh lộ 887, chạy khoảng 20 km sẽ gặp Ngã ba Sơn Đốc

– Đi chưa tới Ngã ba Sơn Đốc, còn khoảng 500 mét, thì rẽ phải vào đường nhựa nhỏ, qua chợ Hưng Nhượng, cuối đường Lộ La Mã là bãi đậu xe của Trung tâm hành hương.

Lưu ý:

* Từ Tỉnh lộ 887 vào chợ Hưng Nhượng là đường giao thông nông thôn chưa nâng cấp, nên chỉ xe dưới 30 chỗ mới vào được. Xe 30 chỗ trở lên, xin đậu tại Ngã ba.

* Từ Ngã ba Sơn Đốc, có rất nhiều Xe Ôm đưa khách vào Nhà thờ La Mã. Mỗi lượt vào (hoặc ra) có giá 10.000đ. Nhưng vì cạnh tranh kiếm sống, nên thường có cảnh chèo kéo, giành giựt … mất trật tự (đa số tài Xe Ôm là người ngoại). Xin quý khách bình tĩnh, cương quyết giữ giá đã thỏa thuận và không nghe theo lời dụ dỗ đi nơi nào khác (vì Linh Ảnh Đức Mẹ đã được đặt và tôn kính trong Nhà thờ La Mã !)

Nhà Hàng Nổi

Nhà hàng nổi Bến Tre là nơi hội tụ các món ngon phản ánh sự phong phú và đa dạng của văn hóa ẩm thực miệt vườn trong không gian lộng gió sông Mekong. Mỗi chi tiết trang trí, mỗi món ăn tại đây đều từ sản vật bản địa để quý khách có thể cảm nhận trọn vẹn phong vị độc đáo của ẩm thực xứ dùa. Với thiết kế 3 tầng, sức chứa 500 khách, phục vụ hội nghị, phòng VIP, Alacart, coffee…

Giữa khung cảnh sông nước hữu tình và không gian lộng gió, nhà hàng nổi Bến Tre là nơi lý tưởng để du khách vừa thưởng thức đặc sản, vừa ngắm cảnh sông và tận hưởng những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của nhóm đờn ca tài tử Nam Bộ.

Đến đây, dường như mọi lo toan bộn bề nơi phố thị đều tan biến mà thay vào đó là cảm giác thư thái, nhẹ nhàng và yên bình.

Hồ Trúc Giang

Hồ Trúc Giang còn có tên gọi là hồ “Chung Thủy”. Chuyện xưa kể rằng có một đôi trai gái yêu nhau tha thiết, không biết trắc trở tình duyên thế nào, mà họ đã nắm tay nhau nhảy xuống hồ tự vẫn! Cảm thương cho đôi tình nhân ấy, dân gian đặt tên cho hồ là “Chung Thủy”.

Dạo quanh hồ Trúc Giang du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây và rồi sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Buổi sớm tinh sương hoặc khi chiều xuống, du khách có thể thả bộ, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ.

Những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn và nên thơ. Chung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi: Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân.

Sau năm 1975 đổi thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên của hồ. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rủ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người…

Những người con về thăm lại quê hương, dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ …

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về tên giọi hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nẵm giữa trung tâm tỉnh lỵ Trúc Giang trước kia, nay là thành phố Bến Tre.

Cầu Rạch Miễu

Khi nói đến những công trình kiến trúc tại bến tre không thể không nhắc đến Cầu Rạch Miễu là một cây cầu dây văng nối liền hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre với nhau. Bờ bắc của cầu này là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, bờ nam là huyện Châu Thành của tỉnh Bến Tre, cách tỉnh lỵ Bến Tre (thành phố Bến Tre) 14 km. Đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam. Cây cầu này khi hoàn thành giúp tỉnh Bến Tre thoát khỏi thế cô lập về giao thông bộ. Ngoài cầu chính, công trình này còn bao gồm đường dẫn hai đầu.

Cầu Rạch Miễu nằm trên quốc lộ 60 bắc qua sông Tiền, cách bến phà hiện hữu khoảng 1 km về phía thượng lưu. Đây là chiếc cầu dây văng lớn thứ ba được xây dựng ở đồng bằng sông Cửu Long (cầu Mỹ Thuận do Úc thiết kế và thi công, cầu Cần Thơ do Nhật thiết kế và thi công) và Rạch Miễu là cây cầu đầu tiên do chính các kỹ sư VN thiết kế và thi công theo công nghệ mới.

Chiều dài: 8331 m kể cả đường nối hai đầu cầu. Riêng phần cầu chính gồm 2 cầu số 1 và số 2 có tổng chiều dài 2.868 m, trong đó có một phần là kết cấu dây văng bố trí nhịp 117m+270m+117m, chiều cao tĩnh không thông thuyền 37,5m. Ở giữa cầu là cù lao Thới Sơn. Cầu số 2 dài 990m gồm các nhịp có chiều dài tới 90m để thông thuyền với chiều cao 7m là dầm bêtông cốt thép dự ứng lực thi công theo phương pháp đúc hẫng cân bằng.

Các nhịp cầu dẫn là nhịp dầm bêtông cốt thép dự ứng lực chiều dài mỗi nhịp 40m. Hai đoạn đường nối hai đầu có tổng chiều dài 5.463mvà 2 cầu chính có tổng chiều dài 2.868m bắc qua 2 nhánh sông Tiền Giang và cồn Thới Sơn.

7 giờ 30 sáng 20/8, Bộ GTVT cùng hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang đã tổ chức lễ hợp long trọng nối 2 nhịp dây văng chính của cầu Rạch Miễu, nối tỉnh Bến Tre với Tiền Giang.

Chiều dài nhịp chính: chiều dài 270 m và chiều cao thông thuyền là 37,5 m cho phép tàu 10.000 tấn có thể đi qua.

Chiều rộng cầu: rộng 12–15 m cho 2 làm xe ô tô và có phần đường cho người đi bộ hai bên
Tổng thầu thi công: liên danh CIENCO1 – CIENCO5 – CIENCO6;CIENCO1 làm lãnh đạo liên doanh, Thi công nhịp chính CIENCO1

Tải trọng cầu: 30 tấn

Tổng mức đầu tư: 1.400 tỷ đồng

Đền Thờ Nguyễn Thị Định

Đền thờ nữ tướng đầu tiền của Quân đội Nhân dân Việt Nam là một quần thể kiến trúc gồm cổng tam quan, nhà bia, đền thờ, nhà trưng bày, được nối với nhau bằng các trục đường chạy qua thảm cỏ xanh và những hàng cây xanh được trồng toả bóng mát.

Trước đền thờ là bia đá tóm tắt tiểu sử của nữ tướng Nguyễn Thị Định, có ghi rõ Cô Ba Định tham gia cách mạng năm 16 tuổi, tên tuổi của vị nữ tướng này gắn với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển” và phong trào Đồng Khởi ở Bến tre năm 1960. Nữ tướng cũng chính là lãnh đạo của “Đội quân tóc dài” đã lập nên nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định được xây trên một mô đất cao, thoáng mát, theo kiểu tứ trụ, côt tròn, mái hai tầng chồng diềm uốn cong 4 góc vút cao lên trời, đầu hồi có trang trí nhiều họa tiết. Đền thờ có 3 cửa ra vào, xung quanh đều được xây dựng các hành lang rất rộng.

Bên trong được đặt một số nội thất giản dị, trang nghiêm. Đáng chú ý nhất là tượng đồng chân dung Cô Ba Định với trang phục áo bà ba khằn rằn quấn cố. Tượng có chiều cao 1,75m, nặng hơn một tấn, được đặt uy nghi trên bệ thờ bằng đá hoa cương cao 1,5m do Bộ Quốc Phòng trao tặng. Kề đó là bức hoành phi ghi lại lời khen của chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho nữ tướng.

Gian bên cạnh là phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba Định. Nổi bật là chiếc áo gió mà nữ tướng đã sử dụng trong thời gian công tác tại khu 2, tỉnh Đồng Tháp từ năm 1962-1963 vẫn được lưu giữ.

Đền Thờ Nguyễn Đình Chiểu

Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu tọa lạc tại Ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 16-3-1993. Khánh thành ngày 1-7-2002 với tổng diện tích khu mộ và đền thờ là 13.000m2.

Đền thờ cụ Nguyễn Đình Chiểu được thành lập với mong muốn khơi gợi lại công ơn người sau năm tháng. Nhằm cho giới trẻ có cơ hội noi gương người đi trước. Phần nào khuyên răn, giáo dục con em ta nên sống tốt trong thời buổi hiện nay.

Người dân từ mọi miền đất nước ghé thăm nơi đây. Nên trước cổng đền, phía trái có nhà tiếp đón các đoàn khách, các cá nhân từ mọi miền về thăm mộ cụ. Từ cổng đền đến nhà bia có sân rộng để khách tham quan có thể ngồi nghĩ ngơi, khu vực đền còn trồng nhiều cây kiểng quý, được uốn tỉa công phu. Toàn bộ hình thành một hệ thống hòa nhập với quang cảnh xanh tươi vốn có của vùng quê An Đức. Đền thờ hình tròn với 3 tầng mái tượng trưng cho ba nghề nghiệp của cụ Đồ Chiểu đó là nghề dạy học, bốc thuốc và nhà thơ.

Tượng cụ Đồ được làm bằng đồng thau, nặng 1,2 tấn. Mảng phù điêu bên trái tả cảnh cụ Đồ đọc văn tế “Lục tỉnh sĩ dân trận vong” tại chợ Đập (Ba Tri) năm 1883. Mảng phù điêu bên phải miêu tả trận đánh của Phan Ngọc Tòng tại Giồng Gạch ( xã An Hiệp – Ba Tri ).

Lăng cụ được xây dựng tại nơi vô cùng yên bình. Khách du lịch nếu về Miền Tây hãy ghé thăm Bến Tre, đặc biệt ghé thăm đền thờ cụ Nguyễn Đình Chiểu. Để có dịp trãi lòng trước người làm nên nhiều điều cho các thế hệ đi trước. Để noi gương sáng từ ông, để thắp nén hương thầm kín bên lăng người.

Tiền đình trong lăng Nguyễn Đình Chiểu là một nhà vuông to, gọn, thiết kế với hai mái chống, lợp ngói âm dương xanh. Ở giữa tiền đình có một tấm bia lớn, bên trên tấm bia khắc bài tóm tắt về tiểu sử, thân thế cũng như sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Tấm bia dựng sừng sững thu hút du khách ngay từ cái nhìn đầu tiên. Với những du khách chưa biết về Nguyễn Đình Chiểu, thông qua văn bia này có thể hiểu hết về cuộc đời cũng như sự nghiệp và những đóng góp to lớn của ông cho nền văn học dân tộc Việt Nam.

Chính điện là một công trình kiến trúc bề thế, không gian có hình khối lăng trụ với ba tầng lợp ngói âm dương màu xanh, mái nhà dốc, mỗi đầu vút cong, dáng cứng cỏi nhưng thanh thoát. Nổi bật trong chính điện là những cột trụ màu nâu đất, ở giữa có tượng bán thân của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Hai bên cột có chạm khắc hai câu thơ bất hủ của nhà thơ này <em>“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng ta”

Trong chính điện, ngoài tượng và bài vị thờ cụ Nguyễn Đình Chiểu còn có treo tranh vẽ chân dung của các vị anh hùng dân tộc Việt Nam như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, Phan Tòng… và trích đoạn những tác phẩm văn học của cụ Đồ.

Đình Phú Lễ

Đình Phú Lễ tọa lạc tại ấp Phú Khương, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1851).

Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm 10 gian: 6 gian chính và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá.

Đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp vào bậc nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Đình nằm trong khuôn viên rộng, dưới bóng mát của nhiều cây cổ thụ làm tôn lên vẻ uy nghiêm trầm mặc vốn có của đình. Qua thời gian và chiến tranh các công trình và hiện vật bài trí bên trong đình như hương án, hoành phi, cuốn thư, bình phong… đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều.

Xem thêm: Đình Bình Thủy và những kiến trúc đặc trưng tại Cần Thơ

Do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, đồ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều.

Tuy nhiên, những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, không bị bom đạn tàn phá, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên rằng đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng.

Hàng năm, hội cúng đình – còn gọi là lễ kỳ yên tổ chức vào rằm tháng 3(âl). Vì là làng lớn, đông dân, nên trước đây mỗi năm trong kỳ tế xuân đều có rước đoàn hát bội về biểu diễn nhiều đêm liền. Lễ tế thu là lễ Cầu bông. Đình Phú Lễ được Bộ Văn hoá – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Cồn Phụng

Cồn Phụng nằm trên một cù lao nổi giữa sông Mỹ Tho (một đoạn của sông Tiền) thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, Bến Tre, cách trung tâm thị xã Bến Tre 12 km (đường bộ) và 25 km (đường sông).

Trước đây cồn Phụng có tên là cồn Tân Vinh. Về sau, nó còn có một tên gọi khác là cù lao Đạo Dừa. Nguyên do là vì ông Nguyễn Thành Nam 1909-1990) đã đến đây xây chùa Nam Quốc Phật và thành lập nên một giáo phái gọi là Đạo Dừa vào đầu thế kỷ 20.

Và trong thời gian xây dựng ngôi chùa ấy, những người thợ nhặt được một cái chén cổ có hình con chim phụng, nên nó còn được gọi là cồn Phụng, và trở thành tên phổ biến cho đến ngày nay.

Ban đầu, cồn Phụng chỉ là một cồn nhỏ nổi giữa sông Mỹ Tho vào những năm 1930 với diện tích khoảng 28 ha, nhưng do lượng phù sa bồi đắp dồi dào mỗi năm mà nay đã lên tới trên 50 ha. Đây là một trong bốn cồn nằm trên đoạn sông vừa kể được đặt theo quan niệm tứ linh mang điềm an lành hạnh phúc là: long, lân, quy, phụng. Cồn Rồng là “long”, cồn Thới Sơn là “lân”, cồn Biện Quy là “quy”, và cồn Tân Vinh là “phụng”.

Viện Bảo Tàng

Tham quan toà nhà Bảo tàng Bến Tre toạ lạc tại số 146 – đường Hùng Vương, phường 3. Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474m2. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng nằm ngay trung tâm thành phố, với khuôn viên rộng hơn 13.000m2, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng nghệ thuật quý giá, đẹp mắt.

Tại ngôi nhà Bảo Tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường, nơi đây làm cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu. Tháng 10/1945, cũng tại đây diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960–1962. Hiện nay, nội thất đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày, triển lãm.

Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn 3.000 hiện vật, hình ảnh, tư liệu gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu, như: Giới thiệu khái quát lịch sử của Bến Tre từ những năm đầu thế kỷ XX đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (30/4/1975); 01 phòng phía sau trưng bày Di chỉ khảo cổ học Giồng Nổi (ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, được phát hiện và đào thám sát vào năm 2003, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006). Hành lang trên tầng lầu, phía trước thì được dùng để trưng bày tranh vẽ ngược kính về Bác Hồ của tác giả Đoàn Việt Tiến là người con của quê hương Bến Tre.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, … Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình, Bảo tàng Bến Tre giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một cơ sơ mới trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà hàng – Khách sạn Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt, 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế-văn hóa-xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Chùa Viên Minh

Chùa Viên Minh tọa lạc tại số 156 đường Nguyễn Đình Chiểu thuộc địa phận phường 2, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Được xây dựng vào năm 1874 với diện tích 3358 m², nơi đây nguyên là một miếu thờ Quan Công. Lúc đầu chùa chỉ được xây dựng thô sơ, nhỏ hẹp, bên trong thờ Phật và tượng Quan Thánh Đế phù hợp với tín ngưỡng của người Hoa và người Việt. Năm 1951 đến năm 1959 chùa được xây lại và kiến trúc được giữ nguyên đến ngày nay. Đến năm 2002, chùa được trùng tu lại khang trang hơn.

Ở sân trước có tôn trí thêm hai pho tượng Quan Thế Âm đứng trên đài sen cao 3 mét có hạc chầu hai bên và Phật đài Thích Ca cao 7 mét. Khu vực chánh điện cũng được bày trí trang nghiêm, đặc biệt có hai pho tượng Phật Di đà và Thích ca cốt bằng nan tre.

Thanh Tùng tổng hợp

Chia sẻ bài viết Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestShare on VKTweet about this on TwitterEmail this to someoneShare on YummlyShare on TumblrShare on LinkedInPrint this page

Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

  1. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Bến Tre […]

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER
error: Liên hệ 0903968628 để sử dụng nội dung!