READING

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại A...

Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại An Giang

An Giang là tỉnh có dân số đông nhất và diện tích đứng thứ 4 (sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và tỉnh Long An) ở miền Tây Nam Bộ (còn gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Một phần diện tích của tỉnh An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên.

An Giang là một trong sáu tỉnh đầu tiên ở Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) vào thời nhà Nguyễn độc lập, thành lập năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Tỉnh An Giang bị giải thể dưới thời Pháp thuộc và sau đó lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập, tồn tại từ cuối năm 1956 cho đến ngày nay. Khi nói đến kiến trúc tại an giang, thì không thể thiếu danh sách các công trình có kiến trúc xây dựng ấn tượng dưới đây…

Giáo xứ Cù Lao Giêng

Giáo xứ Cù Lao Giêng còn có tên gọi là họ Đầu Nước hay họ đạo Cù Lao Giêng, được thành lập năm 1778, là một trong những giáo xứ lớn và lâu đời nhất ở miền Tây Nam Bộ, nay thuộc Giáo phận Long Xuyên, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Tương truyền vào đầu thế kỷ 18, có một số người theo Thiên chúa giáo, trong đó có các Cha cố người Pháp, đến Cù lao Giêng (nay thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, An Giang)[2] để trốn tránh các cuộc ruồng bố đạo Thiên chúa của triều đình nhà Nguyễn.

Đến khi bình yên, họ Đầu Nước do những người trốn chạy trên thành lập ngày càng phát triển. Sau khi Cha Sở Maille chết, Cha Augustinus – Baptista Gazignol (thường gọi là Cha Nho; sinh năm 1843, mất ngày 8 tháng 5 năm 1917), thuộc Hội thừa Sai Paris (MEP) về coi sóc họ Đầu Nước; thì các họ chung quanh được thành lập thêm và trở thành họ lẻ của Giáo xứ này.

Kể từ năm 1927 trở đi, họ Đầu Nước chính thức có cha Sở là người Việt Nam, mà người đầu tiên đó là Cha Gioan Baotixita Nguyễn Long Vân.

Hiện nay, Giáo xứ Cù Lao Giêng với hơn bốn ngàn giáo dân, đa số sống bằng nghề nông, do Cha Sở Louis Gonzaga Mai Hùng Dũng (gọi tắt là Louis Dũng) chăn dắt.

Nơi địa phận của Giáo xứ Cù Lao Giêng cai quản, đang tồn tại nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc trưng của thời kỳ Pháp thuộc, trong số đó nổi bật là: Nhà thờ Cù Lao Giêng, Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, Tu viện dòng Chúa Quan Phòng;

Nhà thờ Cái Đôi

Nhà thờ Cái Đôi của Giáo xứ Cái Đôi là một nhà thờ cổ; nay thuộc ấp An Lương, xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Vì chiến tranh khiến nhiều tài liệu bị thất lạc, nên không rõ Giáo xứ Cái Đôi và nhà thờ Cái Đôi (bằng cây lá) được thành lập năm nào, chỉ còn biết từ năm 1891 về sau.

Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại Ninh Bình

Năm 1891, Cha Giuse Thiên đến coi sóc giáo xứ cho đến năm 1895. Tiếp theo là các Cha: Cha Gioan B. Thới (1895 – 1897), Cha Blondet (1897 – 1899), Cha Phaolô Trần Công Sanh (1899 – 1941).

Trong khoảng thời gian Cha Phaolô Trần Công Sanh coi sóc, năm 1906, bằng tiền của đóng góp của giáo dân, Cha đã cho khởi công xây dựng nhà thờ mới thay cho nhà thờ cũ bằng cây lá đã xuống cấp. Đến năm 1914, Đức Cha giáo phận (không rõ tên) từ Nam Vang về thánh hiến cho nhà thờ mới.

Nhà thờ Năng Gù

Nhà thờ Năng Gù là một ngôi nhà thờ cổ của Giáo xứ Năng Gù, nằm bên Quốc lộ 91; nay thuộc ấp Bình An 2, xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Ban đầu (có thể là trước năm 1859), nhà thờ Năng Gù được cất đơn sơ bằng cây lá trên một nền đất. Về sau, nhà thờ này được lợp ngói, xây tường, lót gạch tàu và trải đệm.

Nhà thờ Năng Gù hiện nay do Cha sở Ulterleiner xây, theo sơ đồ của Đức Cha Hergott (lúc đó là Bề trên giáo phận Nam Vang), kiểu Gothique, dài 55 m, ngang 19 m, với trần cao 15 m, và tháp chuông cao 25 m.

Khi xây xong, nhà thờ được Đức Cha Jean Claude Bouchut làm phép ngày 20 tháng 2 năm 1920, và nâng họ Năng Gù lên hàng giáo xứ gồm các họ đạo: Chắc Cà Đao (nay thuộc địa bàn huyện Châu Thành, An Giang), Cần Xây (nay thuộc địa bàn phường Bình Đức), Ba Bần (nay thuộc địa bàn huyện Thoại Sơn), Long Xuyên (nay thuộc địa bàn thành phố Long Xuyên), Đồng Súc (nay thuộc địa bàn xã Nhơn Mỹ), Cái Dầu (nay thuộc địa bàn huyện Châu Phú), Thị Đam (nay thuộc địa bàn huyện Phú Tân). Về sau, nhà thờ được trùng tu vài lần.

Miếu Bà Chúa Xứ – Núi Sam

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc và tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực.

Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.

Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là “ngôi miếu lớn nhất Việt Nam”.

Theo sách Kỷ lục An Giang, 2009, thì tượng Bà là “pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam”, và “có áo phụng cúng nhiều nhất”.

Truyền thuyết Miếu Bà Chúa Xứ – Núi Sam

Truyện xưa kể lại rằng: Những năm 1820 – 1825, Quân Xiêm thường sang nước ta quấy nhiễu, cướp bóc. Mỗi khi giặc đến, người dân quanh vùng lại phải bồng bế nhau chốn chạy lên núi lánh nạn. Có lần quân giặc đuổi theo lên đến đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà.

Chúng hì hục cậy ra, lấy dây buộc lại dùng đòn khiêng xuống núi để mang về xứ. Nhưng khi bọn chúng mới khiêng đi được một đoạn đường ngắn, lạ thay tượng Bà bỗng dưng nặng trĩu không thể nào nhấc lên được nữa.

Khi đó, một tên trong bọn tức giận đập vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay tức khắc hắn bị Bà trừng phạt.

Thời gian sau, Bà thường hiện về xưng là Bà Chúa Xứ, dạy dân làng khiêng xuống núi lập miếu thờ cúng. Bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp quấy phá, thoát khỏi dịch bệnh hoành hành. Thấy vậy, dân làng họp nhau lên núi khiêng tượng về thờ cúng. Nhưng lạ thay, dù mấy chục thanh niên trai tráng hò nhau gắng sức vẫn không lay chuyến nổi tượng Bà.

Trong lúc mọi người đang rất thất vọng, có ý định bỏ dở thì một cô gái trong làng bỗng dưng lên đồng cho biết : “Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng”. Dân làng làm theo lời dạy ấy và qủa đúng thật 9 cô gái đồng trinh khiêng tượng Bà đi xuống một cách nhẹ nhàng.

Bỗng nhiên khi đi đến chân núi thì tượng Bà trở nên nặng, không thể khiêng nổi thêm một bước nào nữa. Khi đó mọi người đã hiểu rằng, Bà đã chọn nơi đây để an vị nên đã không cố gắng di chuyển đi nữa mà lập miếu thờ cúng chỗ đó.

Bảo Tàng An Giang

Nhà bảo tàng tỉnh An Giang là nơi trưng bày các tài liệu, hiện vật và hình ảnh phản ánh lịch sử, văn hoá và quá trình phát triển của tỉnh An Giang. Bảo tàng có kiến trúc cổ kính, khuôn viên rộng đẹp, với nhiều loại hoa kiểng, đặc biệt là hoa sứ, luôn tỏa hương thơm dịu nhẹ sẽ tạo cho bạn một sự sảng khoái dễ chịu.

Nhà bảo tàng tỉnh An Giang toạ lạc bên đường Thoại Ngọc Hầu, phường Mỹ Long, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đặc điểm: Nhà bảo tàng tỉnh An Giang là nơi trưng bày các tài liệu, hiện vật và hình ảnh phản ánh lịch sử, văn hoá và quá trình phát triển của tỉnh An Giang.

Khi đến đây, du khách sẽ được giới thiệu các phòng trưng bày theo từng chủ đề:

Phòng 1: trưng bày gần 200 hình ảnh và hiện vật về thân thế và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ kiên cường đấu tranh quên mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giai cấp.

Phòng 2: trưng bày những di vật, khảo cổ như: mộ táng, tượng, công cụ lao động, sản xuất… của nền văn hoá Óc Eo từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 7, được khai quật tại khu di tích Ba Thê – Óc Eo. Tại phòng này, trưng bày khoảng 300 hình ảnh và hiện vật cùng với tài liệu, từ đó quý khách có thể hình dung ra một trung tâm văn hoá lớn của một đô thị hoành tráng cổ xưa.

Phòng 3: khi du khách tới đây, sẽ được ôn lại các giai đoạn lịch sử cách mạng của người dân An Giang anh dũng, kiên cường.

Phòng 4: trưng bày với chủ đề “Thành tựu xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của tỉnh An Giang”.

Thánh đường Hồi giáo Chăm

Theo Giáo cả Musahaji – Trưởng Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang: Thánh đường đồng bào Chăm ở An Giang đều có biểu tượng mặt trời và vầng trăng khuyết, cửa và nóc hình vòm, màu chủ đạo là xanh và trắng. Cửa chính của Thánh đường luôn hướng về phía Nam và thường không nằm cùng với cổng ra vào.

Nghĩa là, nếu đi từ ngoài cổng vào, cửa chính của Thánh đường lại nằm bên tay trái, tay phải là một hồ nước rộng được thiết kế dành cho cộng đồng trong tháng ăn chay Rammadan.

Thánh đường được thiết kế theo dạng một tòa nhà rộng, có những dãy hành lang dài hun hút, thẳng tắp. Bên trên dọc theo hành lang là những bức tường được trang trí các họa tiết cùng với những dòng chữ Chăm. Ở đó, rất nhiều cửa sổ được thiết kế song song và đều nhau, tạo cảm giác về sự khoáng đãng cùng với vẻ hào phóng của tâm hồn người Chăm. Vì là nơi thường xuyên tập trung đông người đến cầu nguyện nên Thánh đường cũng có khá nhiều cửa ra vào cùng các cây cột chắc chắn ở bên trong.

Những chiếc cột theo dạng trụ tròn này được thiết kế to nhưng cân đối, đều đặn nên tạo cho người ta cảm giác thoáng đãng.

Bên trong, Thánh đường người Chăm lại được thiết kế khá đơn giản với một nơi thờ Thánh Alla duy nhất cùng một cuốn Kinh thánh để ở chính giữa. Bên phải cuốn Kinh thánh là một cánh cửa có bục ngồi dành riêng cho những người đến sám tội với Thánh. Có thể nói, bên trong Thánh đường là một không gian mở rộng khiến cho con người có cảm giác về sự hài hòa giữa đất trời.

“Vàng bông điên điển Châu Giang
Con nước kém ai dừng lại bên bờ châu thổ
Gác dầm nghe câu hát lao lung…”

“Người Chăm Phũm Soài sanh ra đã nhìn thấy khung dệt”, các cụ già kể lại vậy. Phũm Soài, một trong những làng nghề dệt lụa nức tiếng xa gần, góp phần quan trọng hình thành nên một trung tâm tơ lụa lớn nhất miền Nam là Tân Châu với những lò ươm tơ cự phách cùng “con đường tơ lụa” đầy huyền thoại của vùng “Thủ chiến sai” (An Giang) ngày trước.

“Con đường tơ lụa” thành danh nhờ bước chân người Chăm Châu Giang và những chuyến hàng từ thủ phủ Tân Châu bập bềnh sông nước len lỏi khắp “Lục tỉnh”, lên Sài Gòn, sang miền Đông và vượt dòng Cửu Long tràn sang cả các nước trong vùng…

Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tọa lạc trên cù lao Ông Hổ, thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đây là một trong số 23 di tích Việt Nam đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (ký ngày 10 tháng 5 năm 2012, công bố ngày 17 tháng 7 năm 2012).

Khu đền thờ, nhà trưng bày và một số công trình khác…được khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 1997, và hoàn thành vào tháng 8 năm 1998, trên khuôn viên 1.600 m², đối diện với ngôi nhà thời niên thiếu của Bác Tôn.

Trong khu vực này có một số công trình, song đáng chú ý nhất là:

Đền có kiến trúc cổ lầu tam cấp, các chi tiết bằng gỗ đều là gỗ quý. Vị trí trang trọng có tượng bán thân Chủ tịch Tôn Đức Thắng, phía trên bao lam là rồng cuốn thư mang dòng chữ vàng “Chủ tịch Tôn Đức Thắng”, hai bên bao lam chạm hình cây trúc, phía dưới là cá chép đỡ bao lam.

Xung quanh đền trang trí biểu tượng ngũ phúc (phúc, lộc, thọ, khang, ninh). Nhìn chung, toàn thể khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng có kiến trúc giản dị, hài hòa, và rất thoáng mát (vì có nhiều cây cảnh và kề bên sông Hậu).

Thất Sơn (Bảy Núi)

Bảy Núi còn có tên là Thất Sơn, các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn xưng là Bửu Sơn[1], gồm bảy ngọn núi không liên tục, đột khởi trên đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Bảy Núi là 7 ngọn núi tiêu biểu trong số 37 ngọn núi, ở hai huyện vừa kể trên. Tên Thất Sơn lần đầu được biên chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí (phần An Giang tỉnh, mục Sơn Xuyên), và gồm các núi: Tượng, Tô, Cấm, Ốc Nhẫm, Nam Vi (南為山), Tà Biệt và Nhân Hòa (人和山). Sau đó, Hồ Biểu Chánh trong Thất Sơn huyền bí và Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm, cho rằng đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Trà Sư, Két, Dài, Bà Đội Ôm.

Xem thêm: Cùng leo núi và săn mây tại Núi Bà Đen, Tây Ninh nhé!

Còn theo Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức, xuất bản tại Sài Gòn vào năm 1972; được Vương Hồng Sển dẫn lại trong Tự Vị Tiếng Nói Miền Nam, thì đó là các núi: Tượng, Tô, Cấm, Sam, Két, Dài, Tà Béc…

Đến năm 1984, Trần Thanh Phương cho xuất bản Những Trang sử về An Giang, đã kể tên bảy Núi là:

Núi Cấm (禁山) (Thiên Cẩm Sơn),
Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn)
Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn),
Núi Dài (Ngọa Long Sơn),
Núi Tượng (象山) (Liên Hoa Sơn)
Núi Két (Anh Vũ Sơn)
Núi Nước (Thủy Đài Sơn).
Theo Địa chí An giang…, ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có 37 ngọn núi đã có tên, nhưng con số 7 (bảy núi) vẫn không hề thay đổi.

Mặc dù Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn đã đề cập đến bảy điểm “linh huyệt” của vùng Thất Sơn, rồi chọn ra những núi đã nêu trên, nhưng so sánh lại những tên núi, vẫn có khác biệt.

Lý giải cho điều này, hiện nay vẫn chưa có lời giải thích nào ổn thỏa. Nhưng điều dễ thấy trong việc sắp xếp núi non này, đã chịu ảnh hưởng rất nhiều những yếu tố thần bí, siêu nhiên, phong thủy

Tuy vẫn còn có những ý kiến khác, nhưng hiện nay những núi do Trần Thanh Phương liệt kê, được khá nhiều người đồng thuận.

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Lăng Thoại Ngọc Hầu còn gọi là Sơn Lăng, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành Phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một danh thắng, một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu dưới thời phong kiến, và là một di tích lịch sử cấp quốc gia Việt Nam (xếp hạng năm 1997).

Sơn Lăng nằm nơi chân núi Sam, và kề bên quốc lộ 91 ngày nay. Đây là một khối kiến trúc to lớn nhưng hài hòa. Muốn lên lăng, phải qua chín bậc đá ong dài trên trăm mét, xây hình thang rồi mới đến sân.

Sân lăng bằng phẳng, rộng thênh thang, có hai tiểu đình do người đời sau xây dựng: một dùng để chứa tấm bia Thoại Sơn (bản sao) bằng đá cẩm thạch trắng; hai dùng để tượng ngựa và người lính hầu…Tiếp đến là vòng thành và hai cổng vào lăng hình bán nguyệt được đúc dày, nên trông lăng thật bề thế, vững vàng.

Hiện vật đáng chú ý nơi tường thành có cổng ra vào, là năm tấm bia đá do người sau qui tập về và gắn chặt vào tường thành. Bia ở chính giữa rất có thể là bia Vĩnh Tế Sơn được dựng lên từ năm 1828, tức bốn năm sau khi đào xong kênh Vĩnh Tế. Bia cao hơn đầu người, bằng loại đá sa thạch, khắc 730 chữ Hán.

Do để ngoài trời, không chăm sóc, nên mặt đá đã bị rạn nứt, bị bào mòn nên chữ đã không còn đọc được. Bốn tấm bia còn lại cũng đã bị thời gian làm cho nhẵn nhụi, nên không rõ tung tích…

Hồ Ông Thoại

Hồ Ông Thoại, còn có tên Hồ Thoại Sơn, là hồ nhân tạo lớn nhất miền Tây Nam Bộ, Việt Nam, được hình thành do quá trình dài khai thác đá. Hồ ở tại thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 26 km.

Tên hồ được đặt ra nhằm tưởng nhớ công lao khai phá vùng đất An Giang và đào kênh Thoại Hà của Thoại Ngọc Hầu.

Hồ Ông Thoại rộng và khá yên tĩnh, gồm có 3 hồ, thông nhau bởi các đường hầm xuyên núi. Du khách đến thăm hồ có thể bơi thuyền thưởng ngoạn cảnh đẹp của núi cao, hang sâu, hồ nước xanh thẳm với những đàn cá bơi lượn. Bên hồ có tượng đài Thoại Ngọc Hầu cao hơn 10 m, và tấm bia Thoại Sơn khắc bản dịch tiếng Việt.

Khu du lịch hồ Ông Thoại được xây dựng vào năm 2000 tại khu vực núi Sập. Để tạo điểm nhấn cho cảnh đẹp của các hồ, ban quản lý khu du lịch Núi Sập đã dựng quanh hồ và các đảo nhỏ nhô trên mặt nước những tượng đá mang hình nữ thần Siva, tháp Ponagar, hình tượng Linga… Những tượng đá này đều do những nghệ nhân vùng núi Ngũ Hành Sơn đẽo gọt.

Trường Đại học An Giang

Trường Đại học An Giang (tên giao dịch tiếng Anh: An Giang University) là một trường đại học công lập trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thành lập vào năm 1999 ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Việt Nam.

Trường Đại học An Giang được thành lập theo quyết định số 241/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng chính phủ và khai giảng niên học đầu tiên ngày 9 tháng 9 năm 2000.

Xây dựng trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm An Giang, Trường Đại học An Giang là trường đại học công lập trong hệ thống các trường đại học Việt Nam, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.

Trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ đại học và các trình độ thấp hơn phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và các tỉnh lân cận, đồng thời trường có nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong vùng. Hiệu trưởng hiện nay là PGS-TS. Võ Văn Thắng.

Phán Quan tổng hợp

Chia sẻ bài viết Share on FacebookShare on Google+Pin on PinterestShare on VKTweet about this on TwitterEmail this to someoneShare on YummlyShare on TumblrShare on LinkedInPrint this page

Hai mươi năm về sau bạn sẽ hối hận về những gì bạn không làm hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo ra khỏi bến đỗ an toàn. Hãy để cánh buồm của bạn đón trọn lấy gió. Thám hiểm. Mơ mộng. Khám phá!!!

RELATED POST

  1. […] Xem thêm: Những công trình có kiến trúc đặc trưng nhất tại An Giang […]

Your email address will not be published. Required fields are marked *

INSTAGRAM
KNOW US BETTER